Latest Post
Showing posts with label William Shakespeare. Show all posts
Showing posts with label William Shakespeare. Show all posts
10:15 PM
Trên cầu Rialto của thành phố Venise phồn thịnh, hằng ngày tề tựu đủ mặt các chủ tàu giàu có, các thương nhân, các giám đốc ngân hàng và những nhà buôn lớn. Họ hối hả làm việc. Họ bàn cãi giá cả hàng nghìn sản phẩm quí báu mà những con tàu mang hiệu nữ hoàng Adriatique, đi tìm tòi từ những xứ sở xa xôi. Họ xì xầm về tình trạng tài chính của người này kẻ khác. Đó là chỗ hẹn hò hầu hết những ai có chút tên tuổi ở Venise.
Nơi đó, người lái buôn giàu có Antonio, vẻ mặt buồn bã thất vọng, một buổi sáng, cùng đi dạo với mấy người bạn. Như mọi hôm, câu chuyện cũng xoay quanh những nỗi bấp bênh nguy hiểm của các cơ nghiệp còn lênh đ
ênh trên mặt biển xa xăm, và chẳng ai ngạc nhiên trước vẻ u sầu của người lái buôn, dù ông có đoan quyết là chẳng hề lo lắng tí nào về số phận những con tàu của ông.
- Tôi thì, gã trẻ tuổi Salanio nói , cứ mỗi lần thổi bát canh cho chóng nguội, tôi lại nghĩ đến cái tai họa khủng khiếp của một trận gió dữ dội có thể gây ra trên biển. Tôi không thể nhìn cát rơi mà chẳng liên tưởng đến những đụn cát, nơi bao thương thuyền của tôi sẽ phải đâm vào. Đá hoa trong nhà thờ nhắc tôi nhớ đến những tảng đá ngầm khiến tàu tôi vỡ nát tan tành. Tôi như trông thấy bao nhiêu hàng hóa trôi lều bều trên sóng, lụa là gấm vóc của tôi phủ kín mặt biển xôn xao. A! Tôi tin chắc rằng sở dĩ Antonio buồn là vì ông nghĩ đến hàng hóa của mình đấy thôi.
- Không đâu, - ông ta nói: tôi vẫn phó mặc hết cho thời vận. Hy vọng của tôi chẳng phải đặt vào mỗi một con tàu, tài sản của tôi không tùy thuộc rủi ro bất trắc của một năm. Không, tôi đang ưu phiền vì một nỗi ray rứt không đâu, thật tôi chẳng còn hiểu nổi mình nữa.
Nhưng kìa Bassanio, em họ tôi! Thôi bọn mình tạm biệt nhé, các bạn? Chúng ta sẽ gặp lại nhau trong buổi cơm tối.
- Này, Bassanio, nghe nói chú định làm một chuyến du lịch thăm bà nào phải không? Hôm nay, anh em mình trao đổi chuyện ấy nhé!
- Chắc anh thừa biết tài sản của em hầu như khánh kiệt vì những sự hoang phí vô độ. Em mắc nợ như chúa chổm, và em đã chịu ơn anh qua nhiều, tiền bạc cũng như tình thương mến. Giờ đây, em lại phải cầu cứu đến anh lần nữa, mới mong trang trải nổi mọi chi phí.
- Tiền của anh cũng như của chú, bao giờ anh cũng sẵn lòng. Nào kể đi.
- Ở Belmont có cô gái mồ côi rất giàu, nàng đẹp khôn tả và
đức hạnh tuyệt vời. Đôi mắt nàng như đã ngầm trao ước hẹn với em. Nàng tên là Portia, tiếng tăm nàng vang dội khắp nơi, nên gần xa nô nức, nhiều kẻ hâm mộ nàng tìm đến. Bên thái dương nàng, mái tóc hung óng ánh xõa xuống từng lọn như bộ lông cừu vàng. Như Jason hăm hở trên đường đến Colchide, những kẻ cầu hôn dập dìu đến Belmont để chinh phục lòng nàng. Anh Antonio ơi! Nếu em có đủ phương tiện đến đó tranh đua với họ. Cõi lòng em mách rằng, sự thành công chắc chắn sẽ mang lại hạnh phúc cho đời em.
- Chú cũng biết hiện giờ tất cả cơ nghiệp của anh đều còn trên mặt biển và lúc này, anh không có sẵn một số tiền lớn. Nhưng anh có nhiều uy tín ở Venise. Nếu cần, anh sẽ dùng đến nó, để chú mày có vinh dự hiện diện ở Belmont, mà tán tỉnh cô nàng Portia xinh đẹp. Hãy dọ hỏi xem nơi nào cho vay tiền, anh cam đoan sẽ mượn đủ cho chú.
Vay hỏi ai để có đủ tiền mặt, sắm sửa một bộ cánh lịch sự cho một kẻ phong lưu quí phái? Ai? Nếu chẳng phải là ông chủ nhà băng giàu có, chuyên cho vay nặng lãi, lão Do Thái Shylock mà thiên hạ vẫn thấy rình rập cơ hội mỗi ngày trên cầu Rialto, xúng xính trong bộ áo rộng, vàng ệch, y phục bắt buộc của con dân Do Thái, đội cái mũ dạ hoặc lông thú, râu dài thậm thượt và tóc quăn tít mang tai. Bộ điệu xoàng xĩnh như thế, nhưng lão có bạc triệu. Nhà lão nằm trong khu xóm nhớp nhúa, cứ tối đến là xích chặt lối vào, che mắt thiên hạ vô vàn báu vật: kim cương, châu ngọc quí báu và một cô gái đẹp, cô bé Jessica đỏm dáng. Cô ả láu lỉnh, đã biết cách kết giao với chàng quí tộc cơ đốc Lorenzo, kẻ đã nhìn thấy nàng qua khung cửa sổ, mở xuống dòng kênh. Lão Shylock thù ghét và hoài nghi tất cả những tín đồ cơ đốc giáo, lại vừa khinh bỉ họ. Khi Bassanio đề cập đến chuyện vay tiền, Shylock xin được suy nghĩ lại:
- Ba nghìn đuy- ca, thưa ngài Bassanio. Phải thế không!
- Đúng thế. Trong thời hạn ba tháng.
- Trong ba tháng à? Tốt!
- Như tôi đã nói, Antonio sẽ đứng ra đảm bảo số tiền đó.
- Antonio đảm bảo à? Tốt!
- Ông có thể giúp tôi không? Ông có thỏa mãn tôi không? Kìa, sao ông không trả lời?
- Ba nghìn đuy- ca, trong ba tháng với sự đảm bảo của Antonio, Antoniô tốt lắm!
- Thế nào? Có bao giờ ông nghe nói khác về ông ta đâu?
- Không, không. Thế này nhé. Khi tôi nói rằng ông ta tốt, tôi nghĩ là ông ta dư sức trả nợ, tuy nhiên sản nghiệp của ông ta bấp bênh quá: ông ta có một chiếc tàu cất hàng đi Tripoli, một chiếc khác bên Ấn Độ; trên cầu Rialto, tôi được biết ông ta có một chiếc thứ ba ở Mễ- Tây- Cơ, chiếc thứ tư bên Anh và nhiều chiếc khác nữa rải rác thật xa. Nhưng mấy chiếc tàu, xét cho cùng chỉ là những mảnh ván, và thủy thủ chỉ là những con người. Có chuột đồng thì cũng có chuột nước, trộm cạn và trộm biển, tôi muốn nói lũ hải tặc ấy mà, không kể những hiểm nguy trên đại dương, bão tố, đá ngầm. Song lẽ, người ấy dư sức trả đủ. Ba nghìn đuy- ca. Tôi nghĩ sự đảm bảo của ông ta có thể chấp nhận được. Tôi sẽ tính lại. Tôi có thể trao đổi với ông Antonio không?
- Nếu ông vui lòng đến dự cơm tối với chúng tôi, Bassanio đáp, lòng mừng khấp khởi, quên mất vẻ khinh thị chàng vẫn dành cho lão trước đây.
- Sao, để ngửi mùi thịt lợn à! Shylock hét lên giận dữ
Tôi thích mua bán với các người, bàn chuyện với các người và làm các thứ khác. Nhưng tôi không muốn ăn uống cùng các người, cầu nguyện cùng các người. Mà ai đến kia nhỉ?
- Chắc hẳn là Antonio,- Bassanio đáp.
- Hắn ta có vẻ đạo đức giả quá! “Shylock lầm bầm trong miệng. Ta ghét hắn ta chỉ vì hắn là tín đồ cơ đốc, nhưng cũng vì hắn cho vay không lấy lãi, làm hạ phân suất lãi ở Venise.
Nếu ta nắm được hắn trong tay, ta sẽ mặc tình thao túng hắn cho bõ ghét. Hắn nhạo báng ta, chuyện làm ăn của ta và những món lợi ta thu được một cách chân chính. Mẹ kiếp! Ta mà tha hắn thì trời đ
ày bộ tộc ta đi!
- Ông nghe tôi chứ, Shylock?
- Tôi đang nhẩm tính các số vốn có sẵn và thấy chắc phải mượn thêm phần nào đó của gã Do Thái trong bộ tộc tôi. Nhưng ngài hãy yên lòng, lão hướng về Antonio nói tiếp
Ba nghìn đuy- ca trong ba tháng! Tính thử tiền lời xem nào.
- Thế thì chúng tôi có thể trông cậy vào ông phải không Shylock? "Antonio hỏi gặng.
- Thưa ngài Antonio, biết bao lần, trên cầu Rialto, ngài đã trách móc tôi cho vay nặng lãi, lần nào tôi cũng nhún vai không buồn trả lời, vì sự nhẫn nhục là
đặc tính riêng biệt của dân tộc tôi. Ngài đã cho tôi là phản giáo, chó ghẻ, ngài nhổ toẹt vào áo chủng Do Thái của tôi, tất cả chỉ vì tôi toan tính theo ý mình, những cái thuộc về tôi. Nhưng hôm nay, hình như ngài cần đến tôi và ngài phán: "Shylock, chúng tôi cần tiền". Lời ngài sao mà ngọt ngào, thế mà chính ngài đã nhổ vào râu tôi, đạp vào người tôi, như đạp một con chó hoang lởn vởn trước cửa nhà ngài. Hẳn tôi phải trả lời ngài: "một con chó có tiền không, thưa ngài? Chó mà có thể cho ngài vay ba nghìn đuy- ca à?" Hay tôi phải cúi gập người xuống chào ngài và khép nép thưa: "Bẩm ngài nhân từ, thứ tư rồi, ngài khạc vào mặt tôi, ngày kia, ngài đấm đá tôi túi bụi, một lần khác, ngài mắng tôi là
đồ chó: đáp lại những cách đối đối xử dịu dàng đó, tôi rất lấy làm sung sướng được cho ngài vay thật nhiều tiền!"
- Nếu ông cho tôi vay số bạc đó, Antonio ngạo mạn nói: đừng xem như cho một người bạn vay mà cứ cho là với kẻ thù. Như thế, nếu ta trễ hạn, ông sẽ có được cái thích thú đưa ta ra pháp luật.
- Ta ta ta! Ngài lại nổi nóng rồi! Tôi bao giờ cũng ao ước được làm bạn các ngài! Được các ngài ưu ái, và quên hết mọi nỗi nhục nhã trước công chúng mà ngài đã gây ra, cung phụng cho yêu cầu hiện tại của ngài, và tất cả chẳng tính một xu lời. Ngài nghĩ sao về đề nghị của tôi?
- Nó có vẻ lương thiện đấy, Antonio trả lời sửng sốt.
- Vậy thì ngài hãy cùng tôi đến phòng chưởng khế kí giấy tờ, có điều... ồ! Hoàn toàn chỉ để vui đ
ùa thôi! Tôi sẽ ghi vào văn bản rằng, nếu ngài không hoàn đủ lại tôi món tiền đó, tại nơi nào, vào ngày nào, ngài sẽ được xóa sạch nợ, khi để tôi xẻo một khoảnh thịt chỉ bằng một livre thôi. Trên phần nào của cơ thể ngài mà tôi thích!
- Sẵn lòng, Antonio nói, tôi còn cho rằng người Do Thái thật tốt bụng!
- Anh không thể ký mảnh giấy như thế để giúp đỡ em, Bassanio xúc động, phản đối. Thà cứ để mặc em thiếu thốn còn hơn.
- Bậy nào! Đừng lo gì cả. Tàu sẽ cặp bến một tháng trước khi mãn hạn giao kèo và sẽ mang đến cho anh chín lần trị giá tờ giấy này.
- Thánh Abraham ơi! “Shylock tức giận cầu khẩn- Ngài thấy bọn tín đồ Thiên Chúa giáo đấy! Tôi sẽ được gì nào, khi đòi hỏi điều kiện kia? Một livre thịt, lấy từ một người, nào có đáng giá bằng ngần ấy thịt cừu, thịt bò hay thịt dê. Điều tôi làm chính là
để mua ân phúc của ngài đấy, Abraham ạ!
- Được rồi, Shylock, ta sẽ ký giấy.
- Nếu thế, cứ đến chờ tôi ở phòng chưởng khế, tôi tạt qua nhà, lấy tiền và sẽ gặp lại ngài trong giây lát.
Trong khu vườn lớn với những thảm cỏ lấm tấm hoa, với bóng cây rậm mát, thấp thoáng ngôi biệt thự Belmont xinh xắn, Portia thơ thẩn đi dạo, nét mặt buồn, theo sau là cô hầu trung thành và tinh ranh Nerissa.
- Thực ra, Nerissa à, nàng nói, con người nhỏ bé của ta đã chán ngán cõi đời bao la này rồi. Thật khổ cho ta, đã không thể lựa chọn hay từ chối một người chồng, bởi vì ước mơ của một cô gái đang sống phải chiều theo ý nguyện của người cha đã chết.
- Cha của tiểu thư là người đức hạnh, Nérissa lý luận, và người tốt, lúc sắp chết đều có những linh cảm đúng đắn, hãy yên lòng về cuộc xổ số mà phụ thân tiểu thư đã nghỉ ra với ba cái tráp vàng, bạc và chì. Trong đó có một cái đựng chân dung tiểu thư, sẽ mang đến cho tiểu thư một người chồng xứng đáng. Tiểu thư có thấy linh cảm nghiêng về ai chưa, trong số những kẻ cầu hôn vừa mới đến?
- Hoàng tử thành Naples chỉ nghĩ đến bầy ngựa của chàng, bá tước Palata lúc nào cũng nhăn nhó, vị nam tước trẻ tuổi người Anh chỉ biết bày tỏ lòng mình bằng tiếng mẹ đẻ, gã Êcốt chẳng một xu dính túi, nhà quí tộc Đức say sưa cả ngày, đúng là cái hũ chìm(4). Tóm lại, tôi chỉ mong họ sớm cút đi cho rảnh!
- Hẳn tiểu thư còn nhớ một chàng người Venise, nét mặt khôi ngô có đến đây, thuở sinh thời phụ thân tiểu thư.
- Có nhớ, Portia nói, giọng cố làm ra vẻ lãnh đạm, hình như chàng tên là Bassanio.
- Chàng ta thật xứng với một tiểu thư diễm lệ đ
ài các,- Nérissa nói bóng gió
- Thưa tiểu thư, một tên nô bộc chen vào, hoàng tử Maroc vừa báo tin sắp đến và thái tử Aragon chiều nay sẽ hiện diện nơi đây.
Portia với quả tim hơi se thắt, nhưng đã nhất quyết chiều theo ý nguyện sau cùng của cha, nặng nề bước ra chủ tọa cuộc gieo cầu.
Hoàng tử Maroc kiêu hùng không sao tin rằng bức chân dung tuyệt trần của nàng, phần thưởng cho kẻ nào tinh ý và tài năng, lại có thể cất giữ nơi nào khác hơn là trong cái tráp bằng vàng ròng. Nhưng hắn ta chỉ thấy hình ảnh một thi hài nhăn dúm, hung tợn. Thái tử Aragon, muốn chứng tỏ mình có đầu óc khác thường, nghĩ rằng nên chọn cái tráp bằng bạc: một bức biếm họa dị hợm như gởi gã lời chào tinh quái.
Ngay lúc đó, tên nô bộc báo tin có một kỵ sỹ trẻ tuổi, thanh lịch và hào hoa vừa đến thử thời vận. Chính là Bassanio và người hầu thân tín, Gratiano, cùng đoàn tùy tùng, tất cả hớn hở trong những bộ quần áo chải chuốt hợp thời trang: gấm thêu vàng dát bạc, nhung hoa, tay áo sa-lanh sặc sỡ, đeo vòng vàng và chuỗi ngọc trân châu, cưỡi trên con ngựa hung hăng, lộng lẫy trong bộ yên cương bằng lụa. Lần này, ray rứt vì buộc phải câm lặng trước điều bí mật, cô bồn chồn muốn lùi lại cái phút giây mà Bassanio có thể mất nàng vĩnh viễn. Nhưng kẻ si tình đòi được chọn ngay tức khắc.
- Tôi chẳng muốn chàng nói sau một thoáng tầm tư- đụng đến vàng, thức ăn khô cứng của Midas hay mó đến bạc, thường vụ lợi và ti tiện. Còn chì, cái màu xanh bình dị, làm ta xúc động. Cầu mong sự lựa chọn của ta gặp hái được hạnh phúc!
Portia vui mừng tột độ, mở lấy tráp, lấy bức chân dung của mình ra. Bassanio cũgn mê mẫn cả tâm hồn! Hai kẻ tâm phúc, Nérissa và Gratiano liền chúc mừng hạng phúc cho đôi vợ chồng tương lai. Bassanio, với sự nhạy cảm của người tình thỏa nguyện, đã ngờ ngợ rằng việc kết hợp giữa chàng và Portia nhất định không phải là lễ cưới duy nhất ở Belmont. Gratiano thú nhận đã trót nói lời thề non hẹn biển với cô nàng Nérissa ranh mãnh nhiều đến rát khô cổ họng.
- Được rồi - chủ anh ân cần nói: hôn lễ của chúng tôi sẽ rộn rịp tưng bừng hơn nhờ tiệc cưới của các người. - Tất cả những gì thuộc về em “Portia nói giọng thật nồng nàn giờ đây đều là của chàng.
Lúc này, em là chủ nhân cái dinh thự tráng lệ này, đám người hầu hạ và chính bản thân em. Bây giờ, ngôi nhà này, những nô bộc kia và cả bản thân em đều thuộc về chàng. Em xin trao thân gửi phận cho chàng, cùng với chiếc nhẫn này. Nếu chàng trao nó cho ai, hoặc đánh mất đi, điều đó báo hiệu cho sự đổ vỡ của tình yêu chúng ta.
Bassanio cuống quít tuôn ra bao lời ước hẹn chân thành và thề rằng, thà chết chứ chẳng khi nào rời chiếc nhẫn của Portia.
Trong lúc đó, Shylock lúc nào cũng nghi nan ngờ vực, chú tâm lo toan công việc của mình.
- Jessica, con gái của cha, lão nói: chùm chìa khóa đây; hãy trông chừng nhà cửa nhé!
Chẳng hiểu vì sao chiều nay cha ớn xuống phố thế nào ấy! Nghe này Jessica! Đóng chặt các cửa lại và
đừng vì lẽ gì mà
đứng phất phơ ở cửa sổ, hoặc chường mặt ra với mấy thằng cơ đốc điên rồ. Ôi! Ta chả muốn rời khỏi nhà tí nào. Nhớ khóa hai tua đấy, Jessica! Cái gì ta giữ chặt sẽ còn, câu tục ngữ đó chẳng bao giờ cổ hủ cả.
Trời vừa sụp tối, một đám vũ hội hóa trang đi ngang qua. Chẳng phải là chúng ta đang ở Venise, nơi các cuộc hòa nhạc buổi tối hay ban mai, đeo mặt nạ cải trang xuất hiện từng góc phố đó sao? Sau một ám hiệu, cửa sổ nhà Shylock dè dặt hé mở; một gã thanh niên mảnh khảnh và nhanh nhẹn hiện ra với trang phục của một tên thị đồng hào hoa, mang một lẵng hoa nặng trĩu. Bọn trẻ đeo mặt nạ (qua trò chuyện và giọng nói của họ, ta nhận ra gã Lorenzo nông nỗi và bè bạn, đang thích thú chơi khăm lão Do Thái một vố tệ hại) theo sau họ là một người cầm đuốc có vẻ hơi xúc động, đó chẳng ai khác hơn là Jessica. Họ cùng đến dự liên hoan của Bassanio. Sau đó, hai người tình trốn lên một du thuyền, cuỗm theo phần gia sản quí báu của Shylock gồm kim cương, ngọc thạch và những đồng đuy- ca rủng rỉnh.
Bọn trẻ trong thành phố Venise hớn hở xiết bao, khi được trông thấy lão Shylock râu tóc rối tung trước gió, mắt long lên sòng sọc, rảo bước khắp các nẻo đường, tru tréo nguyền rủa đứa con gái bội bạc:
- Con gái của ta ơi! Những đồng đuy-ca của ta ơi! Ôi! Con gái cảu ta ơi! Một thằng cơ đốc đã cướp mất chúng rồi! Ôi! Những đồng đuy-ca thánh thiện của ta! Công lý ở đâu? Pháp luật ở đâu? Những đồng đuy-ca của ta, con gái của ta! Một bao, hai bao tiền vàng, con gái tôi lấy tất. Rồi nữ trang, hai hạt kim cương nữa! Hai hạt kim cương hiếm quí, con gái tôi cũng đoạt mất! Công lý ở đâu? Hãy tìm cho ra con bé, nó mang trên người nhiều kim cương và
đuy-ca của tôi! Máu thịt của tôi lại nổi lên chống lại tôi! Nó sẽ bị đ
ày mãn kiếp vì tội đó.
Những thương nhân ở Venise, chẳng mấy động lòng vì cơn điên của lão Shylock: họ xầm xì với nhau về tin đồn: một chiếc tàu của Antonio vừa bị đắm ở một chỗ cạn hiểm nghèo, giữa eo biển cách biệt hai nước Pháp và Anh. Những chiếc khác ở Mexico, Tripoli, Barbarie và Ấn Độ thì bặt tin tức. Rồi họ bàn tán cãi vã về sự phá sản có cơ xảy ra. Shylock đâm khùng vì giận tủi, phun ra toàn những lời dữ tợn:
- Tên Antonio khốn kiếp! Quen miệng khoe khoang ngoài phố lại gọi ta là thằng cắt cổ thiên hạ! Hãy coi chừng tờ giấy nợ. A! Hắn cho vay không cần lãi, vì lòng nhân ái cơ đốc giáo! Liệu mà coi chừng tấm giấy nợ!
- Nhưng cho dù hắn khánh tận đi nữa có người vặn lại, ông cũng sẽ chẳng lóc thịt hắn. Ích gì nào?
- Để làm mồi cho cá! Shylock cười khẩy
- Nếu thịt của hắn chẳng nuôi được gì hơn, thì có nuôi được mối hận của tôi. Hắn cười cợt những lần tôi thua lỗ, hắn chế nhạo các món lợi của tôi, hắn nhục mạ xứ sở tôi., hắn chen vào cuộc làm ăn của tôi. Vì lý do nào chứ? Chỉ vì tôi là một người Do Thái. Chẳng lẽ người Do Thái lại không có mắt, có tay, có đầy đủ giác quan với mọi thứ tình cảm và những nỗi say mê à? Họ chẳng ăn cùng một loại thực phẩm như người Cơ đốc hay sao? Chẳng phải người Do Thái cũng bị thương tích bởi cùng những loại vũ khí, cũng mắc phải những căn bệnh và
được chữa trị bằng những vị thuốc giống như người Cơ đốc đó sao? Chẳng phải mùa hè người Do Thái cũgn nóng bức, mùa đông cũng lạnh buốt y như các tín đồ Cơ đốc đó sao? Nếu các người đâm chúng tôi không chảy máu à? Nếu các người cù chúng tôi không cười à? Nếu các người đầu độc chúng tôi không chết à? Nếu các người xúc phạm chúng tôi, chúng tôi lại không trả thù à? Nếu các người giống chúng tôi những cái đó, thì bất luận cái gì chúng tôi cũng giống các người hết. Kìa, anh bạn Tubal, có tìm thấy con gái tôi không?
- Tôi nghe nói nhiều về cô ấy, nhưng chẳng làm sao gặp được, bác Shylock ạ!
- Chưa bao giờ - Shylock kêu lên: chưa bao giờ dân tộc tôi lại đáng nguyền rủa như hôm nay! Hai nghìn đồng đuy-ca và biết bao tư trang quí giá của tôi! Tôi muốn thấy đứa con gái ngỗ nghịch gục chết dưới chân, tai còn đeo nữ trang. Sao nó chẳng bị chôn vùi dưới chân tôi với những đồng đuy-ca của tôi trong quan tài của nó. Chẳng biết tôi còn phải hao tốn bao nhiêu tiền nữa mới tìm ra được nó. Thật là họa vô đơn chí! Chẳng chút thỏa nguyện! Mà cũng chẳng báo được thù! Chẳng có tiếng thở than nào như tiếng than thở của ta, chẳng nước mắt nào như nước mắt của ta!
- Còn nhiều kẻ khác đau khổ - Tubal an ủi: lão Antonio, theo như tôi được biết ở Gênes ...
- Gì thế! Một tai họa? Một tai họa thảm khốc à?
- Lão ta vừa mất chiếc tàu từ Tripoli về.
- Tạ ơn chúa! Có thật không đấy? Ối! Tin đáng mừng!
- Thiên hạ đồn rằng ở Gênes, con gái ông tiêu phí trong một đ
êm mười tám đồng đuy-ca.
- Ngươi cắm dao găm vào ngực ta đó! Ôi! chẳng bao giờ còn được thấy lại vàng của ta!
- Tôi vừa tới Venise Tubal nói tiếp, với các chủ nợ của Antonio, họ quả quyết rằng hắn chỉ còn cách tuyên bố phá sản thôi.
- Thật hả dạ. Ta sẽ làm cho hắn đau đớn. Ta sẽ hành hạ hắn.
- Có kẻ đưa cho tôi xem chiếc nhẫn mà con gái ông đánh đổi với y để lấy một chú khỉ.
- Con đốn mạt! Đó là chiếc nhẫn lam ngọc của ta. Ta mua hồi thời còn trẻ. Ta chẳng bao giờ chịu mất nó, dù
để đổi lấy cả một sa mạc đầy những khỉ.
- Chắc chắn lão Antonio sẽ bị khánh kiệt.
- Thông báo ngay cho một viên quan tư pháp, trước mười lăm ngày. Nếu hắn không trả được nợ, ta sẽ lóc tim của hắn. Nếu hắn trốn khỏi Venise, ta sẽ tiến hành mọi việc theo ý ta. Nào nhanh lên, Tubal, rồi trở lại gặp đi. Đi đi, bạn chí thiết của ta!
Thời gian trôi qua, kỳ hạn đã tới. Antonio không trả được nợ, nhưng Bassanio đã chiếm được Portia. Chính đang lúc tràn trề hạnh phúc, tin tức về nguy cơ của người bạn đã nổ ra. Lorenzo trình diện với Portia a cô vợ mới cưới Jessica, trao cho Bassanio một lá thư khiến anh tái mặt khi đọc qua. Portia, người vợ yêu thương và quả cảm, đã ngăn lại những lời chúc mừng của các bạn mới đến, và tỏ ra lo lắng về nỗi khốn quẫn của chồng.
- Này, Portia hiền dịu “Bassanio thành thực tỏ bày- anh có nói khi ngỏ lời yêu em, rằng anh là một vương tôn, nhưng tài sản duy nhất của anh là dòng máu lưu thông trong huyết quản. Anh là thằng bịp, vì của cải của anh chẳng đáng một đồng xu! Anh bạn hiền từ, quảng đại Antonio của anh đã tự khép mình dưới quyền lực một kẻ thù hiểm ác nhất của anh ấy để yểm trợ cho anh.
Thư này báo tin vụ thất lạc tàu bè của anh ấy, còn tên Do Thái từ chối không nhận tiền, trị giá tờ giấy nợ, vì trễ hạn. Hai mươi thương gia, bạn của Antonio, cả vị đại thống lĩnh nữa và các bạn nhân sĩ, đã hết lời thuyết phục lão. Lão nói lão thích một lirve thịt của Antonio hơn là hai mươi lần số nợ.
Chỉ nghĩ đến điều đó, Portia đã kinh khiếp rụng rời.
- Anh ấy nợ lão Do Thái bao nhiêu? nàng hỏi.
- Ba nghìn đuy-ca, vay cho anh.
- Sao không hơn à? Hãy trả lão sáu nghìn, gấp hai, gấp ba lần còn hơn là phải thấy người bạn thân thiết mất đi, dù chỉ một sợi tóc, Bassanio ạ! Chúng ta hãy đến nhà thờ ngay, chịu phép lễ cưới, để em chính thức là vợ anh, rồi anh hãy tức tốc trở về Venise. Em sẽ đưa anh đủ số vàng để trả gấp hai mươi lần món nợ cỏn con ấy. Nhanh lên, anh yêu, hãy lên đường. Lễ cưới vừa xong, Bassanio lên xe và ra đi. Portia chẳng nói với ai lời nào, đã ngầm nghĩ ra giải pháp. Giao biệt thự cho Lorenzo và Jessica trông nom, nàng bảo rằng sẽ rút vào tu viện để chờ đợi chồng về.
Ta gặp lại Bassanio bên cạnh Antonio, trước phiên tòa trang nghiêm, dưới quyền chủ tọa của vị đại thống lĩnh. Người ta đưa Shylock vào và vị Đại thống lĩnh đi ngay vào vấn đề, vừa giả vờ tin chắc rằng lão Do Thái chẳng thiết nghĩ đến việc thưa kiện Antonio để đòi hỏi việc trả nợ vô nhân đạo, như đã ghi trong giấy. Shylock chẳng chút bận tâm gì đến tình cảm. Lão chỉ cần biết lão có đủ quyền không? Nếu lão vẫn thích được một lirve thịt thay vì ba nghìn đuy- ca, hay sáu nghìn đuy-ca do Bassanio đưa, hay thậm chí sáu lần số tiền sáu nghìn đó, thì luật pháp ở Venise có quyền chống lại không? Đó là câu hỏi duy nhất lão đặt ra trước tòa.
Đại thống lĩnh cho đòi nhà thông thái, cố vấn pháp luật nổi tiếng Bellario, để giải quyết vấn đề hóc búa này. Người ta nóng lòng chờ ông. Ngay lúc đó, trong khi Antonio cam chịu xin cứ để lão Do Thái thỏa mãn lòng thù hận và Shylock thì mài con dao sắc. Người ta loan báo có một sứ giả từ Padoue đến, mang theo lá thư của vị bác học. Một viên thư ký luật sư mặt non choẹt dưới chiếc mũ vải đen gấp nếp, bước vào trình thư lên đại thống lĩnh.
- Ngài Bellario - Đại thống lĩnh tuyên bố- tiến cử trwóc tòa một nhà bác học trẻ, đồng nghiệp của ngài. Ông ấy đâu?
- Gần đây thôi, đang chờ đức ngài phúc đáp; viên thư ký kính cẩn thưa, và chúng ta nhận ra viên thư ký đó chính là cô hầu Nérissa.
- Cho mời vào, nhà bác học Balthazar sẽ thay thế Bellario, hiện đang lâm bệnh. Chưa bao giờ người ta được thấy một nhà bác học uyên thâm mà lại trẻ măng như thế này. Ông ấy kia! Xin chúc mừng. Mời tôn ông an vị. Tôn ông đã có thẩm cứu vấn đề làm bận trí phiên tòa hôm nay rồi chứ?
- Tôi biết rõ vụ kiện trong từng chi tiết; Balthazar nói, giọng sao giống giọng Portia đến kỳ lạ- Ở đây, ai là lái buôn và ai là người Do Thái?
- Antonio và Shylock, cả hai đến gần đây.
- Shylock, ông đã khởi tố trước tòa một vụ kiện lạ lùng hi hữu, nhưng ông đã làm đúng thủ tục đến nỗi pháp luật ở Venise không thể nào ngăn cản ông đeo đuổi vụ kiện. Còn ông, Antonio, ông có nhìn nhận giấy nợ này không?
- Tôi thừa nhận, người lái buôn trả lời, giọng uể oải.
- Như vậy thì người Do Thái này phải có lòng khoan dung mới được.
- Nhưng ai có quyền buộc tôi phải khoan dung kia chứ?
- Không thể cưỡng ép sự khoan dung được, ông Shylock ạ. Như cơn mưa ấm trên cánh đồng, nó rơi xuống để mang lại hạnh phúc cho kẻ nhận, cũng như người cho. Đó là một trong những biểu hiện của thượng đế. Ông nghĩ xem, nếu không có khoan dung, chẳng có ai trong chúng ta mong được cứu rỗi. Hãy giảm bớt tính nghiêm khắc trong lời truy tố, nếu ông cứ cương quyết, buộc lòng pháp đình phải nghị án, chống người lái buôn.
- Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của tôi, tôi yêu cầu luật pháp.
- Antonio lâm vào tình trạng không trả nổi nợ à? Bathazar dò hỏi.
- Sao? Bassanio nóng nảy chen vào
- Tôi xin trả cho Shylock, có cả phiên tòa chứng kiến, hai lần, mười lần số nợ. Hiển nhiên ở đây sự độc ác đang bóp chết sự vô tội. Tôi xin thỉnh cầu các ngài, hãy đặt pháp luật dưới uy quyền của ngài. Xin hãy chọn một bất công nhỏ để mang lại một sự công bằng cao cả. Xin hãy bác lời yêu sách của con quỉ độc ác kia.
- Không một quyền lực nào ở Venise - Bathazar trịnh trọng nói: có thể sửa đổi một sắc lệnh đã ban hành.
- Chính một Daniel đến đây phán xử chúng ta, Shylock kêu lên hồ hỡi. Ôi, vị pháp quan trẻ trung và sáng suốt, xin được kính cẩn nghiêng mình bái phục tôn ông.
- Đưa văn tự ta xem.
- Đây ạ, thưa nhà bác học vô cùng đáng kính.
- Này, Shylock, người ta trả ông gấp ba lần số nợ nhé!
- Tôi đã trót thề với trời đất. Chẳng lẽ lại để lương tâm ray rứt vì sự bội ước. Dù cho được cả Venise, tôi sẽ chẳng bao giờ làm thế. Khi giấy nợ được thanh toán đúng như điều kiện trong đó, tôn ông có thể xé bỏ. Tôn ông là một quan tòa công minh, tôn ông đã trần thuật chính xác sự việc của tôi, tôi yêu cầu tôn ông phán quyết ngay.
- Tôi khẩn thiết van nài quí tòa cứ tiến hành xét xử. Antonio đáng thương nhẫn nại lên tiếng.
- Vậy thì Portia hạ lệnh với giọng buồn bãp: Ông chuẩn bi đưa ngực ra mà nhận phát dao. - Ôi! Vị thẩm phán cao quí! ôi! người trai trẻ tài ba. Ôi! Bậc thánh hiền, liêm khiết! Tôn ông già giặn hơn vẻ mặt bề ngoài. Văn tự đã ghi rõ, ngực hắn! Gần sát bên tim hắn. Chữ nghĩa thật minh bạch.
- Ông có sẵn cân ở đấy chứ, để cân thịt?
- Tất cả đã sẵn sàng Shylock vội vã nói.
- Và một chuyên viên phẫu thuật do ông đ
ài thọ chi phí, để băng vết thương lại, vì chỉ e rằng con nợ của ông sẽ chết vì mất máu.
- Điều này không hề ghi trong văn tự. Tôi cố tìm nhưng chẳng thấy điều đó trong văn tự. - Tôi đã sẵn sàng và có đủ can đảm Antonio cất giọng ão não. Bassanio, đưa tay đây! Đừng đau khổ làm gì, định mệnh đã muốn anh thoát khỏi nỗi nhọc nhằn và ray rứt của tuổi già. Hãy kể với người vợ cao quí của chú về anh, nói với nàng anh thương chú biết bao. Anh bằng lòng trả cho lão Do Thái tất cả máu của tim anh.
- Anh Antonio ơi Bassanio cuống cuồng hét lên: em đã cưới được một người vợ mà em yêu quí hơn cả cuộc đời em, nhưng em bằng lòng mất tất cả, vợ em, đời em và cả thế gian này để giải thoát anh khỏi con quỉ khát máu kia.
- Vợ nhà ngươi Portia dịu dàng nói- chắc chẳng ơn ngươi chút nào, nếu ngàng nghe ngươi nói.
- Tôi cũng rất yêu vợ tôi Gratiano phụ họa thêm
- Nhưng tôi muốn thấy nàng trên trời để nàng có thể cầu xin đấng vạn năng nào đó làm động lòng tên Do Thái ác độc này.
- Ngươi nói thế trong lúc vắng nàng là
đúng Nérissa cất giọng khô khan, lãnh đạm nếu không, độc nguyện của ngươi chắc sẽ gây sóng gió trong gia đình ngươi đó.
- Chúng ta mất quá nhiều thời giờ! lão Shylock cắt ngang- Tuyên án đi, tôi van tôn ông. - Một lirve thịt thuộc về ông! Tòa án đã tuyên xử, luật pháp cho phép ông. Và ông phải xẻo giữa ngực.
- Ôi! Quan tòa công minh! Quan tòa thông thái! Đó là phán quyết. Nào, chuẩn bị đi.
- Khoan đã. Chưa hết đâu. Văn tự không chấp nhận cho ông giọt máu nào cả; lời lẽ thật rõ ràng. Hãy nhận cái gì thuộc về ông, một lirve thịt, nhưng nếu ông làm rơi một giọt máu Cơ đốc, luật pháp ở Venise sẽ truyền lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của ông cho nhà nước cộng hòa.
- Ôi! Vị thẩm phán công minh! Gratiano thở ra nhẹ nhõm, trút bỏ được mối ưu tư
- Này lão Do Thái! Quan tòa thông thái đấy chứ!
- Luật pháp thế à? Shylock kinh hoàng, hỏi lại
- Nếu thế tôi xin nhận số tiền của hắn. Ba lần số nợ, rồi cứ mà tha cho tên Cơ đốc.
- Thong thả đã! Portia nói với Bassanio, chực đưa tiền ngay cho Shylock. Chớ hấp tấp!
Những điều khoản trong văn tự phải được thực hiện từng chữ.
- Ôi! Lão Do Thái! Quan tòa thông minh thật! Gratiano nhấn mạnh.
- Chuẩn bị cắt thịt đi. Đừng cho rơi máu đấy. Nếu ngươi cắt quá hay kém một lirve, dù chỉ bằng một phần hai mươi hột thóc hay sức nặng một sợi tóc, ngươi phải chịu tử hình và tài sản bị tịch thu.
- Một Daniel thứ hai, lão Do Thái ơi, đúng là một Daniel!
- Trao cho tôi phần nợ chính để tôi đi, Shylock hầm hừ.
- Đương sự đã từ chối trước tòa Portia dõng dạc nói
Hắn sẽ nhận được những gì hắn xứng được như vậy. Hắn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của hắn. - Sao cơ? Tôi không được nhận cả phần nợ chính nữa à? Thế thì để quỉ ma trả cho hắn tờ giấy nợ. Tôi chẳng muốn lưu lại đây làm gì cho mất cả thì giờ.
- Khoan đã Shylock! Luật pháp Venise qui định rằng, nếu một người ngoài xâm phạm đến tính mạng một công dân, dù dưới hình thức nào, phân nửa tài sản kẻ đó phải giao cho đối thủ hắn, phân nửa kia sung vào công quỹ. Chỉ có Đại thống lĩnh mới có quyền ân xá tội chết. Ngươi đã phạm đủ các tội đã viện dẫn. Hãy quì xuống mà thỉnh cầu sự khoan dung của Đại thống lĩnh.
- Để ngươi hiểu rõ sự khác biệt giữa tâm hồn chúng ta - Đại thống lĩnh phán với lòng bao dung, ta không đợi ngươi cầu xin rồi mới ban cho ngươi mạng sống. Phân nửa tài sản của ngươi giao thẳng về Antonio, còn phân nửa kia, nhà nước sẽ chỉ thu tiền phạt, nếu ngươi chấp hành nghiêm chỉnh.
- Xin lấy cả mạng sống tôi đi lão Do Thái ủ rũ nói
- Đức ngài lấy đi mọi phương tiện mưu sinh, khác nào đức ngài lấy đi mạng sống của tôi.
- Xin cứ để lại cho lão phân nửa gia sản “Antonio hào hiệp nói- Tôi đủ hài lòng rồi. Phân nửa kia tôi xin được quyền lấy làm của hồi môn cho con gái lão.
- Tôi bằng lòng Shylock cuống quít, hả hê vì lại thoát nạn dễ dàng đến thế. Nhưng cho phép tôi lui. Cứ gởi giấy tờ đến nhà, tôi ký tất. Tôi cảm thấy trong người không được khỏe. Xin đức ngài miễn thứ cho, bấy giờ Bathazar mới lên tiếng cáo từ Đại thống lĩnh . Ngay tối nay, tôi phải về đến Padoue.
- Cho phép tôi được trả thù lao tôn ông bằng tất cả số ba nghìn đuy-ca tiền nợ của lão Do Thái Bassanio vui mừng quá đỗi bèn đề nghị.
- Cứu được bạn ông là tôi mãn nguyện lắm rồi. Nhưng nếu ông khăng khăng đòi đền ơn đáp nghĩa, hãy trao tôi chiếc nhẫn ông đang đeo trên tay, để chứng tỏ chút thâm tình.
- Ờ kìa! Có đáng gì đâu, cái món vật này. Tôi sẽ tìm chiếc nhẫn đẹp nhất Venise để kính dâng tôn ông. Còn cái này, mong tôn ông vui lòng miễn thứ.
- Tôi thấy rõ ông chỉ rộng rãi trong lời hứa nhưng thôi được, thưa ông. Chúc ông được bình an.
- Portia bước đi với vẻ đường hoàng, nhưng hơi phật ý. Antonio áy náy, tha thiết van nài Bassanio: ta chẳng làm được gì để đền ơn xứng đáng cho vị cứu tinh của mình sao? Đến nỗi Bassanio ríu rít cởi nhẫn trao cho tên hầu tâm phúc Gratiano mang đến trao cho nhà thông thái Bathazar, rồi hồi hộp nghĩ đến lúc về đến Belmont.
Trong khu vườn vằng vặc ánh trăng, tiếng nhạc êm dịu từ lâu đ
ài vẳng đến: người ta đang chờ Portia vì nàng có báo trước ngày về. Đôi vợ chồng son, Jessica và Lorenzo, ngồi trên thảm cỏ nhung, nhìn bầu trời lấp lánh muôn sao, vừa đ
ùa nghịch nhau, vừa nhớ lại những chuyện tình đẹp nhất, rồi Lorenzo say sưa giải thích cho Jessica nghe về sự hài hòa giữa các tinh cầu và mớ lý thuyết về âm nhạc của anh. Chính lúc đó, Portia bắt gặp họ. Suốt quãng đường về, mỗi lần gặp một mô đất có dựng thập tự, nàng đều thành tâm quì xuống, cầu nguyện xin trời ban phúc cho cuộc hôn nhân của mình.
Khoảnh khắc sau đó, Bassanio về tới, giới thiệu anh bạn Antonio với vợ, được nàng đón tiếp thật ân cần, nông hậu. Buổi tiệc hội ngộ bỗng gián đoạn vì những lời qua tiếng lại dấm dẳng giữa Nérissa và Gratiano: họ to tiếng và ta nghe Nérissa kịch liệt đòi lại chiếc nhẫn cô đã trao cho Gratiano mà anh chàng thề thốt sẽ giữ mãi. Thế mà giờ đây anh chàng lại bảo rằng biếu nó cho viên thư ký của nhà bác học Balthazar, để đền đáp công lao khó nhọc. Portia nghiêm nghị lắc đầu:
- Gratiano, cậu thực đáng trách, cậu đã xử sự nông nổi đối với kỷ vật đầu tiên của vợ mình. Ta cũng có tặng ngài Bassanio của ta một chiếc nhẫn và ta có thể nói thay chàng rằng chẳng bao giờ chàng lại chịu để mất nó vì bất cứ cái gì trên đời.
- Ấy đấy, - Gratiano kêu lên, quá đỗi mừng rỡ vì đã có dịp tự biện hộ, chính ngài đã tặng cho bác học Bathazar chiếc nhẫn; kể ra ông ấy cũng rất xứng đáng, vả chăng, ông ta chẳng chịu nhận cái gì khác cả.
Bassanio rụng rời, loay hoay tìm đủ cách bào chữa, giải thích hoàn cảnh éo le của mình, nhưng Portia, kiêu hãnh, lạnh lùng chẳng muốn nghe gì cả. Antonio quá khổ sở, vì chính mình là nguyên nhân của mối bất hòa, muốn làm trung gian hàn gắn hai người. Portia giả vờ xiêu lòng và nhờ anh trao lại cho Bassanio chiếc nhẫn khác. Lần này Bassanio rối rít thề thốt, quyết giữ gìn nó đến hơi thở cuối cùng. Khỏi phải nói, hẳn ta cũng biết rằng, Bassanio đã nhận ra chiếc nhẫn còn Portia nói rõ trò giả trá và vai trò của mình trong việc bảo vệ cho Antonio; Nérissa và Gratiano, những nô bộc trung tín, đã vui vẻ giảng hòa và
đ
êm tàn theo tiệc cưới, trước đây đã bị đình hoãn vì câu chuyện bi thảm của người lái buôn thành Venise.345
Chàng lái buôn thành Venise
Trên cầu Rialto của thành phố Venise phồn thịnh, hằng ngày tề tựu đủ mặt các chủ tàu giàu có, các thương nhân, các giám đốc ngân hàng và những nhà buôn lớn. Họ hối hả làm việc. Họ bàn cãi giá cả hàng nghìn sản phẩm quí báu mà những con tàu mang hiệu nữ hoàng Adriatique, đi tìm tòi từ những xứ sở xa xôi. Họ xì xầm về tình trạng tài chính của người này kẻ khác. Đó là chỗ hẹn hò hầu hết những ai có chút tên tuổi ở Venise.
Nơi đó, người lái buôn giàu có Antonio, vẻ mặt buồn bã thất vọng, một buổi sáng, cùng đi dạo với mấy người bạn. Như mọi hôm, câu chuyện cũng xoay quanh những nỗi bấp bênh nguy hiểm của các cơ nghiệp còn lênh đ
- Tôi thì, gã trẻ tuổi Salanio nói , cứ mỗi lần thổi bát canh cho chóng nguội, tôi lại nghĩ đến cái tai họa khủng khiếp của một trận gió dữ dội có thể gây ra trên biển. Tôi không thể nhìn cát rơi mà chẳng liên tưởng đến những đụn cát, nơi bao thương thuyền của tôi sẽ phải đâm vào. Đá hoa trong nhà thờ nhắc tôi nhớ đến những tảng đá ngầm khiến tàu tôi vỡ nát tan tành. Tôi như trông thấy bao nhiêu hàng hóa trôi lều bều trên sóng, lụa là gấm vóc của tôi phủ kín mặt biển xôn xao. A! Tôi tin chắc rằng sở dĩ Antonio buồn là vì ông nghĩ đến hàng hóa của mình đấy thôi.
- Không đâu, - ông ta nói: tôi vẫn phó mặc hết cho thời vận. Hy vọng của tôi chẳng phải đặt vào mỗi một con tàu, tài sản của tôi không tùy thuộc rủi ro bất trắc của một năm. Không, tôi đang ưu phiền vì một nỗi ray rứt không đâu, thật tôi chẳng còn hiểu nổi mình nữa.
Nhưng kìa Bassanio, em họ tôi! Thôi bọn mình tạm biệt nhé, các bạn? Chúng ta sẽ gặp lại nhau trong buổi cơm tối.
- Này, Bassanio, nghe nói chú định làm một chuyến du lịch thăm bà nào phải không? Hôm nay, anh em mình trao đổi chuyện ấy nhé!
- Chắc anh thừa biết tài sản của em hầu như khánh kiệt vì những sự hoang phí vô độ. Em mắc nợ như chúa chổm, và em đã chịu ơn anh qua nhiều, tiền bạc cũng như tình thương mến. Giờ đây, em lại phải cầu cứu đến anh lần nữa, mới mong trang trải nổi mọi chi phí.
- Tiền của anh cũng như của chú, bao giờ anh cũng sẵn lòng. Nào kể đi.
- Ở Belmont có cô gái mồ côi rất giàu, nàng đẹp khôn tả và
- Chú cũng biết hiện giờ tất cả cơ nghiệp của anh đều còn trên mặt biển và lúc này, anh không có sẵn một số tiền lớn. Nhưng anh có nhiều uy tín ở Venise. Nếu cần, anh sẽ dùng đến nó, để chú mày có vinh dự hiện diện ở Belmont, mà tán tỉnh cô nàng Portia xinh đẹp. Hãy dọ hỏi xem nơi nào cho vay tiền, anh cam đoan sẽ mượn đủ cho chú.
Vay hỏi ai để có đủ tiền mặt, sắm sửa một bộ cánh lịch sự cho một kẻ phong lưu quí phái? Ai? Nếu chẳng phải là ông chủ nhà băng giàu có, chuyên cho vay nặng lãi, lão Do Thái Shylock mà thiên hạ vẫn thấy rình rập cơ hội mỗi ngày trên cầu Rialto, xúng xính trong bộ áo rộng, vàng ệch, y phục bắt buộc của con dân Do Thái, đội cái mũ dạ hoặc lông thú, râu dài thậm thượt và tóc quăn tít mang tai. Bộ điệu xoàng xĩnh như thế, nhưng lão có bạc triệu. Nhà lão nằm trong khu xóm nhớp nhúa, cứ tối đến là xích chặt lối vào, che mắt thiên hạ vô vàn báu vật: kim cương, châu ngọc quí báu và một cô gái đẹp, cô bé Jessica đỏm dáng. Cô ả láu lỉnh, đã biết cách kết giao với chàng quí tộc cơ đốc Lorenzo, kẻ đã nhìn thấy nàng qua khung cửa sổ, mở xuống dòng kênh. Lão Shylock thù ghét và hoài nghi tất cả những tín đồ cơ đốc giáo, lại vừa khinh bỉ họ. Khi Bassanio đề cập đến chuyện vay tiền, Shylock xin được suy nghĩ lại:
- Ba nghìn đuy- ca, thưa ngài Bassanio. Phải thế không!
- Đúng thế. Trong thời hạn ba tháng.
- Trong ba tháng à? Tốt!
- Như tôi đã nói, Antonio sẽ đứng ra đảm bảo số tiền đó.
- Antonio đảm bảo à? Tốt!
- Ông có thể giúp tôi không? Ông có thỏa mãn tôi không? Kìa, sao ông không trả lời?
- Ba nghìn đuy- ca, trong ba tháng với sự đảm bảo của Antonio, Antoniô tốt lắm!
- Thế nào? Có bao giờ ông nghe nói khác về ông ta đâu?
- Không, không. Thế này nhé. Khi tôi nói rằng ông ta tốt, tôi nghĩ là ông ta dư sức trả nợ, tuy nhiên sản nghiệp của ông ta bấp bênh quá: ông ta có một chiếc tàu cất hàng đi Tripoli, một chiếc khác bên Ấn Độ; trên cầu Rialto, tôi được biết ông ta có một chiếc thứ ba ở Mễ- Tây- Cơ, chiếc thứ tư bên Anh và nhiều chiếc khác nữa rải rác thật xa. Nhưng mấy chiếc tàu, xét cho cùng chỉ là những mảnh ván, và thủy thủ chỉ là những con người. Có chuột đồng thì cũng có chuột nước, trộm cạn và trộm biển, tôi muốn nói lũ hải tặc ấy mà, không kể những hiểm nguy trên đại dương, bão tố, đá ngầm. Song lẽ, người ấy dư sức trả đủ. Ba nghìn đuy- ca. Tôi nghĩ sự đảm bảo của ông ta có thể chấp nhận được. Tôi sẽ tính lại. Tôi có thể trao đổi với ông Antonio không?
- Nếu ông vui lòng đến dự cơm tối với chúng tôi, Bassanio đáp, lòng mừng khấp khởi, quên mất vẻ khinh thị chàng vẫn dành cho lão trước đây.
- Sao, để ngửi mùi thịt lợn à! Shylock hét lên giận dữ
Tôi thích mua bán với các người, bàn chuyện với các người và làm các thứ khác. Nhưng tôi không muốn ăn uống cùng các người, cầu nguyện cùng các người. Mà ai đến kia nhỉ?
- Chắc hẳn là Antonio,- Bassanio đáp.
- Hắn ta có vẻ đạo đức giả quá! “Shylock lầm bầm trong miệng. Ta ghét hắn ta chỉ vì hắn là tín đồ cơ đốc, nhưng cũng vì hắn cho vay không lấy lãi, làm hạ phân suất lãi ở Venise.
Nếu ta nắm được hắn trong tay, ta sẽ mặc tình thao túng hắn cho bõ ghét. Hắn nhạo báng ta, chuyện làm ăn của ta và những món lợi ta thu được một cách chân chính. Mẹ kiếp! Ta mà tha hắn thì trời đ
- Ông nghe tôi chứ, Shylock?
- Tôi đang nhẩm tính các số vốn có sẵn và thấy chắc phải mượn thêm phần nào đó của gã Do Thái trong bộ tộc tôi. Nhưng ngài hãy yên lòng, lão hướng về Antonio nói tiếp
Ba nghìn đuy- ca trong ba tháng! Tính thử tiền lời xem nào.
- Thế thì chúng tôi có thể trông cậy vào ông phải không Shylock? "Antonio hỏi gặng.
- Thưa ngài Antonio, biết bao lần, trên cầu Rialto, ngài đã trách móc tôi cho vay nặng lãi, lần nào tôi cũng nhún vai không buồn trả lời, vì sự nhẫn nhục là
- Nếu ông cho tôi vay số bạc đó, Antonio ngạo mạn nói: đừng xem như cho một người bạn vay mà cứ cho là với kẻ thù. Như thế, nếu ta trễ hạn, ông sẽ có được cái thích thú đưa ta ra pháp luật.
- Ta ta ta! Ngài lại nổi nóng rồi! Tôi bao giờ cũng ao ước được làm bạn các ngài! Được các ngài ưu ái, và quên hết mọi nỗi nhục nhã trước công chúng mà ngài đã gây ra, cung phụng cho yêu cầu hiện tại của ngài, và tất cả chẳng tính một xu lời. Ngài nghĩ sao về đề nghị của tôi?
- Nó có vẻ lương thiện đấy, Antonio trả lời sửng sốt.
- Vậy thì ngài hãy cùng tôi đến phòng chưởng khế kí giấy tờ, có điều... ồ! Hoàn toàn chỉ để vui đ
- Sẵn lòng, Antonio nói, tôi còn cho rằng người Do Thái thật tốt bụng!
- Anh không thể ký mảnh giấy như thế để giúp đỡ em, Bassanio xúc động, phản đối. Thà cứ để mặc em thiếu thốn còn hơn.
- Bậy nào! Đừng lo gì cả. Tàu sẽ cặp bến một tháng trước khi mãn hạn giao kèo và sẽ mang đến cho anh chín lần trị giá tờ giấy này.
- Thánh Abraham ơi! “Shylock tức giận cầu khẩn- Ngài thấy bọn tín đồ Thiên Chúa giáo đấy! Tôi sẽ được gì nào, khi đòi hỏi điều kiện kia? Một livre thịt, lấy từ một người, nào có đáng giá bằng ngần ấy thịt cừu, thịt bò hay thịt dê. Điều tôi làm chính là
- Được rồi, Shylock, ta sẽ ký giấy.
- Nếu thế, cứ đến chờ tôi ở phòng chưởng khế, tôi tạt qua nhà, lấy tiền và sẽ gặp lại ngài trong giây lát.
Trong khu vườn lớn với những thảm cỏ lấm tấm hoa, với bóng cây rậm mát, thấp thoáng ngôi biệt thự Belmont xinh xắn, Portia thơ thẩn đi dạo, nét mặt buồn, theo sau là cô hầu trung thành và tinh ranh Nerissa.
- Thực ra, Nerissa à, nàng nói, con người nhỏ bé của ta đã chán ngán cõi đời bao la này rồi. Thật khổ cho ta, đã không thể lựa chọn hay từ chối một người chồng, bởi vì ước mơ của một cô gái đang sống phải chiều theo ý nguyện của người cha đã chết.
- Cha của tiểu thư là người đức hạnh, Nérissa lý luận, và người tốt, lúc sắp chết đều có những linh cảm đúng đắn, hãy yên lòng về cuộc xổ số mà phụ thân tiểu thư đã nghỉ ra với ba cái tráp vàng, bạc và chì. Trong đó có một cái đựng chân dung tiểu thư, sẽ mang đến cho tiểu thư một người chồng xứng đáng. Tiểu thư có thấy linh cảm nghiêng về ai chưa, trong số những kẻ cầu hôn vừa mới đến?
- Hoàng tử thành Naples chỉ nghĩ đến bầy ngựa của chàng, bá tước Palata lúc nào cũng nhăn nhó, vị nam tước trẻ tuổi người Anh chỉ biết bày tỏ lòng mình bằng tiếng mẹ đẻ, gã Êcốt chẳng một xu dính túi, nhà quí tộc Đức say sưa cả ngày, đúng là cái hũ chìm(4). Tóm lại, tôi chỉ mong họ sớm cút đi cho rảnh!
- Hẳn tiểu thư còn nhớ một chàng người Venise, nét mặt khôi ngô có đến đây, thuở sinh thời phụ thân tiểu thư.
- Có nhớ, Portia nói, giọng cố làm ra vẻ lãnh đạm, hình như chàng tên là Bassanio.
- Chàng ta thật xứng với một tiểu thư diễm lệ đ
- Thưa tiểu thư, một tên nô bộc chen vào, hoàng tử Maroc vừa báo tin sắp đến và thái tử Aragon chiều nay sẽ hiện diện nơi đây.
Portia với quả tim hơi se thắt, nhưng đã nhất quyết chiều theo ý nguyện sau cùng của cha, nặng nề bước ra chủ tọa cuộc gieo cầu.
Hoàng tử Maroc kiêu hùng không sao tin rằng bức chân dung tuyệt trần của nàng, phần thưởng cho kẻ nào tinh ý và tài năng, lại có thể cất giữ nơi nào khác hơn là trong cái tráp bằng vàng ròng. Nhưng hắn ta chỉ thấy hình ảnh một thi hài nhăn dúm, hung tợn. Thái tử Aragon, muốn chứng tỏ mình có đầu óc khác thường, nghĩ rằng nên chọn cái tráp bằng bạc: một bức biếm họa dị hợm như gởi gã lời chào tinh quái.
Ngay lúc đó, tên nô bộc báo tin có một kỵ sỹ trẻ tuổi, thanh lịch và hào hoa vừa đến thử thời vận. Chính là Bassanio và người hầu thân tín, Gratiano, cùng đoàn tùy tùng, tất cả hớn hở trong những bộ quần áo chải chuốt hợp thời trang: gấm thêu vàng dát bạc, nhung hoa, tay áo sa-lanh sặc sỡ, đeo vòng vàng và chuỗi ngọc trân châu, cưỡi trên con ngựa hung hăng, lộng lẫy trong bộ yên cương bằng lụa. Lần này, ray rứt vì buộc phải câm lặng trước điều bí mật, cô bồn chồn muốn lùi lại cái phút giây mà Bassanio có thể mất nàng vĩnh viễn. Nhưng kẻ si tình đòi được chọn ngay tức khắc.
- Tôi chẳng muốn chàng nói sau một thoáng tầm tư- đụng đến vàng, thức ăn khô cứng của Midas hay mó đến bạc, thường vụ lợi và ti tiện. Còn chì, cái màu xanh bình dị, làm ta xúc động. Cầu mong sự lựa chọn của ta gặp hái được hạnh phúc!
Portia vui mừng tột độ, mở lấy tráp, lấy bức chân dung của mình ra. Bassanio cũgn mê mẫn cả tâm hồn! Hai kẻ tâm phúc, Nérissa và Gratiano liền chúc mừng hạng phúc cho đôi vợ chồng tương lai. Bassanio, với sự nhạy cảm của người tình thỏa nguyện, đã ngờ ngợ rằng việc kết hợp giữa chàng và Portia nhất định không phải là lễ cưới duy nhất ở Belmont. Gratiano thú nhận đã trót nói lời thề non hẹn biển với cô nàng Nérissa ranh mãnh nhiều đến rát khô cổ họng.
- Được rồi - chủ anh ân cần nói: hôn lễ của chúng tôi sẽ rộn rịp tưng bừng hơn nhờ tiệc cưới của các người. - Tất cả những gì thuộc về em “Portia nói giọng thật nồng nàn giờ đây đều là của chàng.
Lúc này, em là chủ nhân cái dinh thự tráng lệ này, đám người hầu hạ và chính bản thân em. Bây giờ, ngôi nhà này, những nô bộc kia và cả bản thân em đều thuộc về chàng. Em xin trao thân gửi phận cho chàng, cùng với chiếc nhẫn này. Nếu chàng trao nó cho ai, hoặc đánh mất đi, điều đó báo hiệu cho sự đổ vỡ của tình yêu chúng ta.
Bassanio cuống quít tuôn ra bao lời ước hẹn chân thành và thề rằng, thà chết chứ chẳng khi nào rời chiếc nhẫn của Portia.
Trong lúc đó, Shylock lúc nào cũng nghi nan ngờ vực, chú tâm lo toan công việc của mình.
- Jessica, con gái của cha, lão nói: chùm chìa khóa đây; hãy trông chừng nhà cửa nhé!
Chẳng hiểu vì sao chiều nay cha ớn xuống phố thế nào ấy! Nghe này Jessica! Đóng chặt các cửa lại và
Trời vừa sụp tối, một đám vũ hội hóa trang đi ngang qua. Chẳng phải là chúng ta đang ở Venise, nơi các cuộc hòa nhạc buổi tối hay ban mai, đeo mặt nạ cải trang xuất hiện từng góc phố đó sao? Sau một ám hiệu, cửa sổ nhà Shylock dè dặt hé mở; một gã thanh niên mảnh khảnh và nhanh nhẹn hiện ra với trang phục của một tên thị đồng hào hoa, mang một lẵng hoa nặng trĩu. Bọn trẻ đeo mặt nạ (qua trò chuyện và giọng nói của họ, ta nhận ra gã Lorenzo nông nỗi và bè bạn, đang thích thú chơi khăm lão Do Thái một vố tệ hại) theo sau họ là một người cầm đuốc có vẻ hơi xúc động, đó chẳng ai khác hơn là Jessica. Họ cùng đến dự liên hoan của Bassanio. Sau đó, hai người tình trốn lên một du thuyền, cuỗm theo phần gia sản quí báu của Shylock gồm kim cương, ngọc thạch và những đồng đuy- ca rủng rỉnh.
Bọn trẻ trong thành phố Venise hớn hở xiết bao, khi được trông thấy lão Shylock râu tóc rối tung trước gió, mắt long lên sòng sọc, rảo bước khắp các nẻo đường, tru tréo nguyền rủa đứa con gái bội bạc:
- Con gái của ta ơi! Những đồng đuy-ca của ta ơi! Ôi! Con gái cảu ta ơi! Một thằng cơ đốc đã cướp mất chúng rồi! Ôi! Những đồng đuy-ca thánh thiện của ta! Công lý ở đâu? Pháp luật ở đâu? Những đồng đuy-ca của ta, con gái của ta! Một bao, hai bao tiền vàng, con gái tôi lấy tất. Rồi nữ trang, hai hạt kim cương nữa! Hai hạt kim cương hiếm quí, con gái tôi cũng đoạt mất! Công lý ở đâu? Hãy tìm cho ra con bé, nó mang trên người nhiều kim cương và
Những thương nhân ở Venise, chẳng mấy động lòng vì cơn điên của lão Shylock: họ xầm xì với nhau về tin đồn: một chiếc tàu của Antonio vừa bị đắm ở một chỗ cạn hiểm nghèo, giữa eo biển cách biệt hai nước Pháp và Anh. Những chiếc khác ở Mexico, Tripoli, Barbarie và Ấn Độ thì bặt tin tức. Rồi họ bàn tán cãi vã về sự phá sản có cơ xảy ra. Shylock đâm khùng vì giận tủi, phun ra toàn những lời dữ tợn:
- Tên Antonio khốn kiếp! Quen miệng khoe khoang ngoài phố lại gọi ta là thằng cắt cổ thiên hạ! Hãy coi chừng tờ giấy nợ. A! Hắn cho vay không cần lãi, vì lòng nhân ái cơ đốc giáo! Liệu mà coi chừng tấm giấy nợ!
- Nhưng cho dù hắn khánh tận đi nữa có người vặn lại, ông cũng sẽ chẳng lóc thịt hắn. Ích gì nào?
- Để làm mồi cho cá! Shylock cười khẩy
- Nếu thịt của hắn chẳng nuôi được gì hơn, thì có nuôi được mối hận của tôi. Hắn cười cợt những lần tôi thua lỗ, hắn chế nhạo các món lợi của tôi, hắn nhục mạ xứ sở tôi., hắn chen vào cuộc làm ăn của tôi. Vì lý do nào chứ? Chỉ vì tôi là một người Do Thái. Chẳng lẽ người Do Thái lại không có mắt, có tay, có đầy đủ giác quan với mọi thứ tình cảm và những nỗi say mê à? Họ chẳng ăn cùng một loại thực phẩm như người Cơ đốc hay sao? Chẳng phải người Do Thái cũng bị thương tích bởi cùng những loại vũ khí, cũng mắc phải những căn bệnh và
- Tôi nghe nói nhiều về cô ấy, nhưng chẳng làm sao gặp được, bác Shylock ạ!
- Chưa bao giờ - Shylock kêu lên: chưa bao giờ dân tộc tôi lại đáng nguyền rủa như hôm nay! Hai nghìn đồng đuy-ca và biết bao tư trang quí giá của tôi! Tôi muốn thấy đứa con gái ngỗ nghịch gục chết dưới chân, tai còn đeo nữ trang. Sao nó chẳng bị chôn vùi dưới chân tôi với những đồng đuy-ca của tôi trong quan tài của nó. Chẳng biết tôi còn phải hao tốn bao nhiêu tiền nữa mới tìm ra được nó. Thật là họa vô đơn chí! Chẳng chút thỏa nguyện! Mà cũng chẳng báo được thù! Chẳng có tiếng thở than nào như tiếng than thở của ta, chẳng nước mắt nào như nước mắt của ta!
- Còn nhiều kẻ khác đau khổ - Tubal an ủi: lão Antonio, theo như tôi được biết ở Gênes ...
- Gì thế! Một tai họa? Một tai họa thảm khốc à?
- Lão ta vừa mất chiếc tàu từ Tripoli về.
- Tạ ơn chúa! Có thật không đấy? Ối! Tin đáng mừng!
- Thiên hạ đồn rằng ở Gênes, con gái ông tiêu phí trong một đ
- Ngươi cắm dao găm vào ngực ta đó! Ôi! chẳng bao giờ còn được thấy lại vàng của ta!
- Tôi vừa tới Venise Tubal nói tiếp, với các chủ nợ của Antonio, họ quả quyết rằng hắn chỉ còn cách tuyên bố phá sản thôi.
- Thật hả dạ. Ta sẽ làm cho hắn đau đớn. Ta sẽ hành hạ hắn.
- Có kẻ đưa cho tôi xem chiếc nhẫn mà con gái ông đánh đổi với y để lấy một chú khỉ.
- Con đốn mạt! Đó là chiếc nhẫn lam ngọc của ta. Ta mua hồi thời còn trẻ. Ta chẳng bao giờ chịu mất nó, dù
- Chắc chắn lão Antonio sẽ bị khánh kiệt.
- Thông báo ngay cho một viên quan tư pháp, trước mười lăm ngày. Nếu hắn không trả được nợ, ta sẽ lóc tim của hắn. Nếu hắn trốn khỏi Venise, ta sẽ tiến hành mọi việc theo ý ta. Nào nhanh lên, Tubal, rồi trở lại gặp đi. Đi đi, bạn chí thiết của ta!
Thời gian trôi qua, kỳ hạn đã tới. Antonio không trả được nợ, nhưng Bassanio đã chiếm được Portia. Chính đang lúc tràn trề hạnh phúc, tin tức về nguy cơ của người bạn đã nổ ra. Lorenzo trình diện với Portia a cô vợ mới cưới Jessica, trao cho Bassanio một lá thư khiến anh tái mặt khi đọc qua. Portia, người vợ yêu thương và quả cảm, đã ngăn lại những lời chúc mừng của các bạn mới đến, và tỏ ra lo lắng về nỗi khốn quẫn của chồng.
- Này, Portia hiền dịu “Bassanio thành thực tỏ bày- anh có nói khi ngỏ lời yêu em, rằng anh là một vương tôn, nhưng tài sản duy nhất của anh là dòng máu lưu thông trong huyết quản. Anh là thằng bịp, vì của cải của anh chẳng đáng một đồng xu! Anh bạn hiền từ, quảng đại Antonio của anh đã tự khép mình dưới quyền lực một kẻ thù hiểm ác nhất của anh ấy để yểm trợ cho anh.
Thư này báo tin vụ thất lạc tàu bè của anh ấy, còn tên Do Thái từ chối không nhận tiền, trị giá tờ giấy nợ, vì trễ hạn. Hai mươi thương gia, bạn của Antonio, cả vị đại thống lĩnh nữa và các bạn nhân sĩ, đã hết lời thuyết phục lão. Lão nói lão thích một lirve thịt của Antonio hơn là hai mươi lần số nợ.
Chỉ nghĩ đến điều đó, Portia đã kinh khiếp rụng rời.
- Anh ấy nợ lão Do Thái bao nhiêu? nàng hỏi.
- Ba nghìn đuy-ca, vay cho anh.
- Sao không hơn à? Hãy trả lão sáu nghìn, gấp hai, gấp ba lần còn hơn là phải thấy người bạn thân thiết mất đi, dù chỉ một sợi tóc, Bassanio ạ! Chúng ta hãy đến nhà thờ ngay, chịu phép lễ cưới, để em chính thức là vợ anh, rồi anh hãy tức tốc trở về Venise. Em sẽ đưa anh đủ số vàng để trả gấp hai mươi lần món nợ cỏn con ấy. Nhanh lên, anh yêu, hãy lên đường. Lễ cưới vừa xong, Bassanio lên xe và ra đi. Portia chẳng nói với ai lời nào, đã ngầm nghĩ ra giải pháp. Giao biệt thự cho Lorenzo và Jessica trông nom, nàng bảo rằng sẽ rút vào tu viện để chờ đợi chồng về.
Ta gặp lại Bassanio bên cạnh Antonio, trước phiên tòa trang nghiêm, dưới quyền chủ tọa của vị đại thống lĩnh. Người ta đưa Shylock vào và vị Đại thống lĩnh đi ngay vào vấn đề, vừa giả vờ tin chắc rằng lão Do Thái chẳng thiết nghĩ đến việc thưa kiện Antonio để đòi hỏi việc trả nợ vô nhân đạo, như đã ghi trong giấy. Shylock chẳng chút bận tâm gì đến tình cảm. Lão chỉ cần biết lão có đủ quyền không? Nếu lão vẫn thích được một lirve thịt thay vì ba nghìn đuy- ca, hay sáu nghìn đuy-ca do Bassanio đưa, hay thậm chí sáu lần số tiền sáu nghìn đó, thì luật pháp ở Venise có quyền chống lại không? Đó là câu hỏi duy nhất lão đặt ra trước tòa.
Đại thống lĩnh cho đòi nhà thông thái, cố vấn pháp luật nổi tiếng Bellario, để giải quyết vấn đề hóc búa này. Người ta nóng lòng chờ ông. Ngay lúc đó, trong khi Antonio cam chịu xin cứ để lão Do Thái thỏa mãn lòng thù hận và Shylock thì mài con dao sắc. Người ta loan báo có một sứ giả từ Padoue đến, mang theo lá thư của vị bác học. Một viên thư ký luật sư mặt non choẹt dưới chiếc mũ vải đen gấp nếp, bước vào trình thư lên đại thống lĩnh.
- Ngài Bellario - Đại thống lĩnh tuyên bố- tiến cử trwóc tòa một nhà bác học trẻ, đồng nghiệp của ngài. Ông ấy đâu?
- Gần đây thôi, đang chờ đức ngài phúc đáp; viên thư ký kính cẩn thưa, và chúng ta nhận ra viên thư ký đó chính là cô hầu Nérissa.
- Cho mời vào, nhà bác học Balthazar sẽ thay thế Bellario, hiện đang lâm bệnh. Chưa bao giờ người ta được thấy một nhà bác học uyên thâm mà lại trẻ măng như thế này. Ông ấy kia! Xin chúc mừng. Mời tôn ông an vị. Tôn ông đã có thẩm cứu vấn đề làm bận trí phiên tòa hôm nay rồi chứ?
- Tôi biết rõ vụ kiện trong từng chi tiết; Balthazar nói, giọng sao giống giọng Portia đến kỳ lạ- Ở đây, ai là lái buôn và ai là người Do Thái?
- Antonio và Shylock, cả hai đến gần đây.
- Shylock, ông đã khởi tố trước tòa một vụ kiện lạ lùng hi hữu, nhưng ông đã làm đúng thủ tục đến nỗi pháp luật ở Venise không thể nào ngăn cản ông đeo đuổi vụ kiện. Còn ông, Antonio, ông có nhìn nhận giấy nợ này không?
- Tôi thừa nhận, người lái buôn trả lời, giọng uể oải.
- Như vậy thì người Do Thái này phải có lòng khoan dung mới được.
- Nhưng ai có quyền buộc tôi phải khoan dung kia chứ?
- Không thể cưỡng ép sự khoan dung được, ông Shylock ạ. Như cơn mưa ấm trên cánh đồng, nó rơi xuống để mang lại hạnh phúc cho kẻ nhận, cũng như người cho. Đó là một trong những biểu hiện của thượng đế. Ông nghĩ xem, nếu không có khoan dung, chẳng có ai trong chúng ta mong được cứu rỗi. Hãy giảm bớt tính nghiêm khắc trong lời truy tố, nếu ông cứ cương quyết, buộc lòng pháp đình phải nghị án, chống người lái buôn.
- Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của tôi, tôi yêu cầu luật pháp.
- Antonio lâm vào tình trạng không trả nổi nợ à? Bathazar dò hỏi.
- Sao? Bassanio nóng nảy chen vào
- Tôi xin trả cho Shylock, có cả phiên tòa chứng kiến, hai lần, mười lần số nợ. Hiển nhiên ở đây sự độc ác đang bóp chết sự vô tội. Tôi xin thỉnh cầu các ngài, hãy đặt pháp luật dưới uy quyền của ngài. Xin hãy chọn một bất công nhỏ để mang lại một sự công bằng cao cả. Xin hãy bác lời yêu sách của con quỉ độc ác kia.
- Không một quyền lực nào ở Venise - Bathazar trịnh trọng nói: có thể sửa đổi một sắc lệnh đã ban hành.
- Chính một Daniel đến đây phán xử chúng ta, Shylock kêu lên hồ hỡi. Ôi, vị pháp quan trẻ trung và sáng suốt, xin được kính cẩn nghiêng mình bái phục tôn ông.
- Đưa văn tự ta xem.
- Đây ạ, thưa nhà bác học vô cùng đáng kính.
- Này, Shylock, người ta trả ông gấp ba lần số nợ nhé!
- Tôi đã trót thề với trời đất. Chẳng lẽ lại để lương tâm ray rứt vì sự bội ước. Dù cho được cả Venise, tôi sẽ chẳng bao giờ làm thế. Khi giấy nợ được thanh toán đúng như điều kiện trong đó, tôn ông có thể xé bỏ. Tôn ông là một quan tòa công minh, tôn ông đã trần thuật chính xác sự việc của tôi, tôi yêu cầu tôn ông phán quyết ngay.
- Tôi khẩn thiết van nài quí tòa cứ tiến hành xét xử. Antonio đáng thương nhẫn nại lên tiếng.
- Vậy thì Portia hạ lệnh với giọng buồn bãp: Ông chuẩn bi đưa ngực ra mà nhận phát dao. - Ôi! Vị thẩm phán cao quí! ôi! người trai trẻ tài ba. Ôi! Bậc thánh hiền, liêm khiết! Tôn ông già giặn hơn vẻ mặt bề ngoài. Văn tự đã ghi rõ, ngực hắn! Gần sát bên tim hắn. Chữ nghĩa thật minh bạch.
- Ông có sẵn cân ở đấy chứ, để cân thịt?
- Tất cả đã sẵn sàng Shylock vội vã nói.
- Và một chuyên viên phẫu thuật do ông đ
- Điều này không hề ghi trong văn tự. Tôi cố tìm nhưng chẳng thấy điều đó trong văn tự. - Tôi đã sẵn sàng và có đủ can đảm Antonio cất giọng ão não. Bassanio, đưa tay đây! Đừng đau khổ làm gì, định mệnh đã muốn anh thoát khỏi nỗi nhọc nhằn và ray rứt của tuổi già. Hãy kể với người vợ cao quí của chú về anh, nói với nàng anh thương chú biết bao. Anh bằng lòng trả cho lão Do Thái tất cả máu của tim anh.
- Anh Antonio ơi Bassanio cuống cuồng hét lên: em đã cưới được một người vợ mà em yêu quí hơn cả cuộc đời em, nhưng em bằng lòng mất tất cả, vợ em, đời em và cả thế gian này để giải thoát anh khỏi con quỉ khát máu kia.
- Vợ nhà ngươi Portia dịu dàng nói- chắc chẳng ơn ngươi chút nào, nếu ngàng nghe ngươi nói.
- Tôi cũng rất yêu vợ tôi Gratiano phụ họa thêm
- Nhưng tôi muốn thấy nàng trên trời để nàng có thể cầu xin đấng vạn năng nào đó làm động lòng tên Do Thái ác độc này.
- Ngươi nói thế trong lúc vắng nàng là
- Chúng ta mất quá nhiều thời giờ! lão Shylock cắt ngang- Tuyên án đi, tôi van tôn ông. - Một lirve thịt thuộc về ông! Tòa án đã tuyên xử, luật pháp cho phép ông. Và ông phải xẻo giữa ngực.
- Ôi! Quan tòa công minh! Quan tòa thông thái! Đó là phán quyết. Nào, chuẩn bị đi.
- Khoan đã. Chưa hết đâu. Văn tự không chấp nhận cho ông giọt máu nào cả; lời lẽ thật rõ ràng. Hãy nhận cái gì thuộc về ông, một lirve thịt, nhưng nếu ông làm rơi một giọt máu Cơ đốc, luật pháp ở Venise sẽ truyền lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của ông cho nhà nước cộng hòa.
- Ôi! Vị thẩm phán công minh! Gratiano thở ra nhẹ nhõm, trút bỏ được mối ưu tư
- Này lão Do Thái! Quan tòa thông thái đấy chứ!
- Luật pháp thế à? Shylock kinh hoàng, hỏi lại
- Nếu thế tôi xin nhận số tiền của hắn. Ba lần số nợ, rồi cứ mà tha cho tên Cơ đốc.
- Thong thả đã! Portia nói với Bassanio, chực đưa tiền ngay cho Shylock. Chớ hấp tấp!
Những điều khoản trong văn tự phải được thực hiện từng chữ.
- Ôi! Lão Do Thái! Quan tòa thông minh thật! Gratiano nhấn mạnh.
- Chuẩn bị cắt thịt đi. Đừng cho rơi máu đấy. Nếu ngươi cắt quá hay kém một lirve, dù chỉ bằng một phần hai mươi hột thóc hay sức nặng một sợi tóc, ngươi phải chịu tử hình và tài sản bị tịch thu.
- Một Daniel thứ hai, lão Do Thái ơi, đúng là một Daniel!
- Trao cho tôi phần nợ chính để tôi đi, Shylock hầm hừ.
- Đương sự đã từ chối trước tòa Portia dõng dạc nói
Hắn sẽ nhận được những gì hắn xứng được như vậy. Hắn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về hành động của hắn. - Sao cơ? Tôi không được nhận cả phần nợ chính nữa à? Thế thì để quỉ ma trả cho hắn tờ giấy nợ. Tôi chẳng muốn lưu lại đây làm gì cho mất cả thì giờ.
- Khoan đã Shylock! Luật pháp Venise qui định rằng, nếu một người ngoài xâm phạm đến tính mạng một công dân, dù dưới hình thức nào, phân nửa tài sản kẻ đó phải giao cho đối thủ hắn, phân nửa kia sung vào công quỹ. Chỉ có Đại thống lĩnh mới có quyền ân xá tội chết. Ngươi đã phạm đủ các tội đã viện dẫn. Hãy quì xuống mà thỉnh cầu sự khoan dung của Đại thống lĩnh.
- Để ngươi hiểu rõ sự khác biệt giữa tâm hồn chúng ta - Đại thống lĩnh phán với lòng bao dung, ta không đợi ngươi cầu xin rồi mới ban cho ngươi mạng sống. Phân nửa tài sản của ngươi giao thẳng về Antonio, còn phân nửa kia, nhà nước sẽ chỉ thu tiền phạt, nếu ngươi chấp hành nghiêm chỉnh.
- Xin lấy cả mạng sống tôi đi lão Do Thái ủ rũ nói
- Đức ngài lấy đi mọi phương tiện mưu sinh, khác nào đức ngài lấy đi mạng sống của tôi.
- Xin cứ để lại cho lão phân nửa gia sản “Antonio hào hiệp nói- Tôi đủ hài lòng rồi. Phân nửa kia tôi xin được quyền lấy làm của hồi môn cho con gái lão.
- Tôi bằng lòng Shylock cuống quít, hả hê vì lại thoát nạn dễ dàng đến thế. Nhưng cho phép tôi lui. Cứ gởi giấy tờ đến nhà, tôi ký tất. Tôi cảm thấy trong người không được khỏe. Xin đức ngài miễn thứ cho, bấy giờ Bathazar mới lên tiếng cáo từ Đại thống lĩnh . Ngay tối nay, tôi phải về đến Padoue.
- Cho phép tôi được trả thù lao tôn ông bằng tất cả số ba nghìn đuy-ca tiền nợ của lão Do Thái Bassanio vui mừng quá đỗi bèn đề nghị.
- Cứu được bạn ông là tôi mãn nguyện lắm rồi. Nhưng nếu ông khăng khăng đòi đền ơn đáp nghĩa, hãy trao tôi chiếc nhẫn ông đang đeo trên tay, để chứng tỏ chút thâm tình.
- Ờ kìa! Có đáng gì đâu, cái món vật này. Tôi sẽ tìm chiếc nhẫn đẹp nhất Venise để kính dâng tôn ông. Còn cái này, mong tôn ông vui lòng miễn thứ.
- Tôi thấy rõ ông chỉ rộng rãi trong lời hứa nhưng thôi được, thưa ông. Chúc ông được bình an.
- Portia bước đi với vẻ đường hoàng, nhưng hơi phật ý. Antonio áy náy, tha thiết van nài Bassanio: ta chẳng làm được gì để đền ơn xứng đáng cho vị cứu tinh của mình sao? Đến nỗi Bassanio ríu rít cởi nhẫn trao cho tên hầu tâm phúc Gratiano mang đến trao cho nhà thông thái Bathazar, rồi hồi hộp nghĩ đến lúc về đến Belmont.
Trong khu vườn vằng vặc ánh trăng, tiếng nhạc êm dịu từ lâu đ
Khoảnh khắc sau đó, Bassanio về tới, giới thiệu anh bạn Antonio với vợ, được nàng đón tiếp thật ân cần, nông hậu. Buổi tiệc hội ngộ bỗng gián đoạn vì những lời qua tiếng lại dấm dẳng giữa Nérissa và Gratiano: họ to tiếng và ta nghe Nérissa kịch liệt đòi lại chiếc nhẫn cô đã trao cho Gratiano mà anh chàng thề thốt sẽ giữ mãi. Thế mà giờ đây anh chàng lại bảo rằng biếu nó cho viên thư ký của nhà bác học Balthazar, để đền đáp công lao khó nhọc. Portia nghiêm nghị lắc đầu:
- Gratiano, cậu thực đáng trách, cậu đã xử sự nông nổi đối với kỷ vật đầu tiên của vợ mình. Ta cũng có tặng ngài Bassanio của ta một chiếc nhẫn và ta có thể nói thay chàng rằng chẳng bao giờ chàng lại chịu để mất nó vì bất cứ cái gì trên đời.
- Ấy đấy, - Gratiano kêu lên, quá đỗi mừng rỡ vì đã có dịp tự biện hộ, chính ngài đã tặng cho bác học Bathazar chiếc nhẫn; kể ra ông ấy cũng rất xứng đáng, vả chăng, ông ta chẳng chịu nhận cái gì khác cả.
Bassanio rụng rời, loay hoay tìm đủ cách bào chữa, giải thích hoàn cảnh éo le của mình, nhưng Portia, kiêu hãnh, lạnh lùng chẳng muốn nghe gì cả. Antonio quá khổ sở, vì chính mình là nguyên nhân của mối bất hòa, muốn làm trung gian hàn gắn hai người. Portia giả vờ xiêu lòng và nhờ anh trao lại cho Bassanio chiếc nhẫn khác. Lần này Bassanio rối rít thề thốt, quyết giữ gìn nó đến hơi thở cuối cùng. Khỏi phải nói, hẳn ta cũng biết rằng, Bassanio đã nhận ra chiếc nhẫn còn Portia nói rõ trò giả trá và vai trò của mình trong việc bảo vệ cho Antonio; Nérissa và Gratiano, những nô bộc trung tín, đã vui vẻ giảng hòa và
Labels:
TruyenNgan,
William Shakespeare
9:15 PM
Prospéro , công tước Milan, là một vị quân vương lạ lùng. Cả đời, ngài vùi đầu sống giữa đống sách vở và các ống nghiệm, đắm hồn trong những cuộc nghiên cứu huyền bí, bỏ mặc việc triều chính cho người em trai là Antonio. Hậu quả thật tai hại. Gã Antonio đầy tham vọng, lợi dụng việc rời xa binh quyền và lòng tin cậy mù quáng của ngài để chiếm đoạt, trước tiên là mọi quyền lợi của công quốc, sau đó là lòng dân Milan. Tên gian tặc nghĩ mình mới thực sự là
đấng quân vương, thu tóm mọi đặc quyền của Prospéro, là người vẫn cho rằng cái thư viện thênh thang là một công quốc vừa đủ cho nhà bác học. Vua xứ Naples, kẻ thù của Prospéro, tự xem mình là thượng quốc, hạ cố liên kết với Antonio. Cả hai âm mưu phế trừ Prospéro. Vào một đ
êm ghê rợn, lũ côn đồ theo lệnh Antonio xông vào Milan. Chúng bắt cóc Prospéro, vị công tước hợp pháp, cùng cô con gái ba tuổi Miranda, mang xuống thuyền, dông tuốt ra khơi. Gặp xác một con tàu đắm chỏng chơ giữa biển, đến loài chuột cũng chẳng thèm bén mảng đến, để tránh đổ máu, chúng quăng họ lên đó, bỏ mặc cho số phận đẩy đưa. Hồn nhiên, Miranda nhoẻn miệng cười, chính nụ cười đó giúp Prospéro có đủ nghị lực chống lại định mệnh khắc khe. Một công dân Naples tên là Gonzalo, mủi lòng trước cảnh hoạn nạn đó, dù lãnh nhiệm vụ thi hành mưu đồ độc ác, đã mang theo ít thực phẩm, nước uống, quần áo, chăn màn và số lớn sách vở mà Prospéro quí hơn cả công quốc của mình. Lênh đ
ênh theo triều sóng, họ đến được một hòn đảo hoang vu, tưởng chừng như chưa có bóng người. Prospéro rời tàu, thực ra là mấy mảnh ván trôi giạt, dìu Miranda, ôm mớ hàng hóa quí hiếm lên bờ. Ngài sắp xếp chỗ ở trong một hang động thênh thang, chia ra làm nhiều ngăn. Nhà bác học kiêm pháp sư Prospéro nhận ra ngay trên đảo, có lai vãng những hồn ma Thiện và Ác. Bọn thủy thủ Alger đã vứt lên đấy mụ phù thủy hiểm ác Sycorax, hòng thoát khỏi sự trù yểm của mụ. Mụ ta có đứa con trai tên là Caliban, một con quái vật tóc hung gớm ghiếc, một tên súc sinh hung dữ, chỉ biết nói bập bẹ tiếng người. Để đảm bảo quyền cai quản hòn đảo cho con, trước khi chết, mụ ta đã nhốt trong các thân cây đại thụ các hồn ma đã không chịu tuân lệnh con mụ, Prospéro giải thoát cho họ và chiếm được lòng trung thành tuyệt đối của họ. Ariel hồn ma cầm đầu, nhất mực phục tùng ngài, luôn ngoan ngoãn làm điều thiện.
Mặt khác, Prospéro cũng nổ lực cải hóa tên Caliban gớm ghiếc, mong mang lại tính người cho hắn. Ngài đã dạy cho hắn nói, cho hắn uống nước và ăn quả ngọt, dạy cho hắn tên các vị tinh tú, -cái to sáng rực ban ngày và cái nhỏ lấp lánh trong đ
êm. Nhưng Caliban thừa hưởng của mẹ toàn bản năng xấu, hắn ta đã chẳng có lần hành hung cô bé Miranda đó sao? Bởi thế, hắn bị đ
ày dưới hốc đá tối tăm và giáng xuống hàng nô lệ, phải gánh củi, đốt lửa, và luôn bị Ariel canh chừng. Gã này vô hình trước mắt mọi người, trừ ngài Prospéro. Cái hồn ma tinh nghịch ấy, nhớ lại cách cư xử tàn tệ khi xưa của mụ Sycorax đối với mình, đã tỏ ra khắc khe trong nhiệm vụ, gã kiềm kẹp Caliban, xô hắn ngã huỳnh huỵch trong các vũng nước, đôi khi biến thành khỉ, từ nhành cây cao, nhăn bộ mặt kinh dị với hắn, hay hóa ra con nhím, lăn tròn dưới chân hắn và tên đần độn, vụng về cất chân lên, để khỏi bị nhím đâm.
Trong lúc đó, thời gian vùn vụt trôi qua. Miranda lớn lên, càng thêm xinh đẹp và duyên dáng. Đến năm mười lăm tuổi, nàng chưa hề biết một người nào khác ngoài cha nàng, nên bao tâm tưởng, nàng đều gởi trọn cho cha. Hơn nữa, nhờ môn khoa học huyền bí đã trở nên điêu luyện sau mười hai năm ẩn dật và nghiền ngẫm, ngài có thể đọc mọi ý nghĩ giấu kín trong đầu con gái như trên trang sách. Ngài xét thấy thời gian đã chín muồi để có thể sử dụng sở trường khoa học của mình mà làm chủ mọi biến cố.
Ông em Antonio, thay ngài làm công tước Milan tháp tùng đức vua Naples và hoàng tử Ferdinand, đang lênh đ
ênh trên biển với đám thuộc hạ. Họ vừa mang công chúa Claribelle sang châu Phi và
đang trên đường về Italia, sau khi dự hôn lễ của nàng với vua Tunis. Chính lúc đó, họ lâm vào một trận đồ bát quái của Prospéro. Theo lệnh ngài, Ariel gây ra cơn bão lạ lùng, chưa bao giờ xảy ra trên Địa Trung Hải. Gió thổi khi thì trước mũi, khi thì sau lái, ma trơi chập chờn tứ phía, đỉnh cột buồm gãy ngang rồi trụ buồm, cột buồm cái thi nhau vặn mình răng rắc và
đổ ập xuống. Giữa cảnh náo loạn, khi lưu hoàng theo sóng biển tràn lên, cả đoàn người đi tàu như lên cơn điên vì sợ hãi. Viên thuyền trưởng hoài công giữ chặt tay lái, họ nhảy bừa xuống biển đang ầm ầm cuộn sóng.
Chúng ta đắm tàu mất! -họ hét lên. Giờ này, ta xin đổi ngàn dặm biển để lấy một mảnh đất khô cằn, một bờ thạch thảo hay một bụi kim-tước chi gai góc. Chết trên khô vẫn sướng hơn! Hoàng tử Ferdinand kinh hoàng nhảy khỏi tàu, thốt lên:
- Tất cả yêu tinh quỷ quái đều tề tựu về đây, chắc địa ngục vắng không!
Và
đức vua Naples, cha chàng, ngỡ chàng bị sóng cuốn mất.
Nhưng Ariel đã cẩn thận chọn nơi đắm tàu thật gần bờ. Vẫn theo lệnh Prospéro, gã phân tán nạn nhân ra từng nhóm, cho họ trôi dạt vào nhiều điểm khác nhau trên đảo, rồi về báo cáo với chủ:
- Chả thiếu mặt ai trong đoàn người trên tàu cả, dù rằng ai cũng ngỡ rằng mình là người duy nhất sống sót: họ mệt nhoài nên ngủ cả, bùa mê của ta sẽ khiến họ còn ngủ lâu: con tàu đỗ an toàn dưới bến, dù chẳng ai thấy được nó. Công tước và vua Naples đều đang tìm hoàng tử Ferdinand, nhưng chẳng mong gì gặp lại. Phần chàng vẫn bình an vô sự, khoanh tay trước ngực, khóc than cho cái chết của phụ vương mà chàng ngỡ đã chìm sâu dưới đáy biển. Chàng chẳng bị thương tích gì, quần áo tuy hơi ướt đẫm nước biển, lại thấy mát mẻ hơn bao giờ. Đoàn tàu còn lại, tiếp tục cuộc hành trình, buồn bã giương buồm về Naples, tất cả đều quả quyết, đã trông thấy tàu nhà vua chìm lỉm và
đức vua đã băng hà.
Ariel nhận lệnh mới, lại hóa ra nữ thần hải dương, ra biển hát một ca khúc của mỹ nhân ngư: Hãy chạy lên bãi cát vàng
Nẵm chặt tay nhau
Nếu các ngươi đã gặp và hôn phải làn sóng dữ
Cứ tưng bừng nhảy múa đó đây
Hãy đến đây, những tâm hồn kỳ diệu, cùng cất tiếng hát với ta.
Bài ca đánh thức hoàng tử Ferdinand, đang còn thiếp ngủ vì mệt.
Ariel hát tiếp:
Dưới năm sải nước, cha ngươi vừa gục ngã
Xương ngài sẽ biến thành san hô
Mắt ngài sẽ là hai viên ngọc
Chẳng có gì của ngài mất đi
Nhưng đại dương sẽ biến tất cả thành những vật hiếm hoi và quí báu
Các nữ thủy thần sẽ từng giờ đổ chuông gọi hồn Ngài
Kia! Hãy chăm chú lắng nghe: Đinh, đong, đinh, đong!
Choàng dậy, Ferdinand cảm thấy nỗi khổ đau cơ hồ nguôi dần. Chàng bước lần theo tiếng hát đang bay xa. Tiếng hát đưa chàng đến một lùm cây rậm rạp: dưới bóng mát, Prospéro và Miranda đang ngồi. Miranda ngước mắt lên:
- Con nhìn gì đấy? –cha nàng hỏi
- Chắc hẳn đó là một con ma, -cô gái khẽ đáp- Nó nhìn quanh quất. Nó đẹp quá, chỉ có thể là một con ma thôi.
- Không đâu, con ạ! Đó là một con người, cũng ăn, ngủ và sống như chúng ta. Đó là một chàng trai trẻ, trên chiếc tàu vừa bị đắm. Chàng lạc mất cả bạn đồng hành và
đang tìm kiếm họ khắp nơi.
Miranda vẫn tưởng rằng: mọi con người đều phải có bộ mặt trịnh trọng và chòm râu dài như Prospéro. Yên lòng và thích thú, nàng tiến lại gần. Hoàng tử Ferdinand, vẫn còn mê mẫn bởi tiếng hát Ariel, chợt ngất ngây trước tấm nhan sắc kỳ diệu, ngỡ mình đã lọt vào hòn đảo thần tiên. Miranda không thể là người trần. Nên chàng rụt rè hỏi: phải chăng nàng là thần nữ chốn này?
- Tôi chỉ là một cô gái bình thường –Miranda bẽn lẽn đáp. Nàng sắp sửa kể lại chuện đời mình, bởi nàng đâu đã biết đến tính đa nghi và lòng ngờ vực. Nhưng Prospéro kịp ngăn lại, ngài thấy rõ hai trẻ ngây thơ đã yêu nhau, ngay phút đầu gặp gỡ, -như người đời vẫn nói. Để thử thách Ferdinand, ngài vờ nghi chàng dối trá và
đối xử hết sức khắt khe. Phải chăng chàng đến đây là
để chiếm đảo của Ngài.
- Hãy theo ta –ngài cất giọng nghiêm khắc- Ta sẽ giam ngươi lại và trói chặt tay chân, ngươi sẽ phải uống nước biển, ăn vỏ sò, rễ khô và dẻ rừng.
- Ta chẳng cần làm gì cả! –Ferdinand hiên ngang cự lại, tay đặt vào chuôi kiếm. Nhưng Prospéro chỉ cần vung đũa thần lên, là hoàng tử đã bị trói chặt. Miranda thấy động lòng trắc ẩn.
- Thưa phụ thân, hãy thương xót chàng. Con xin đảm bảo cho chàng đấy! Chàng là người thứ hai mà con được thấy, nhưng con tin chàng ngay thẳng và chân thực.
- Sao? -Cha nàng hầm hừ- Con thấy hắn đẹp à, vì con chỉ biết có mỗi mình hắn và Caliban. Nhưng cha nói cho con rõ, này cô bé khờ khạo của cha, sánh với bao kẻ khác, hắn cũng chỉ là một tên Caliban thôi.
- Chắc là con quá khiêm tốn trong tình yêu, –cô gái nhỏ nhẹ nói- bởi lẽ con chẳng mong ước người nào khác quyến rũ hơn.
- Ngươi không có quyền cãi lệnh ta, nào theo ta ngay! –Prospéro quát lên, và vị hoàng tử sững sờ riu ríu bước theo.
- Linh hồn ta bị ràng buộc, -hoàng tử thầm thì- Nhưng cái chết của cha ta, sự yếu đuối và mệt mỏi của ta, tai nạn đắm tàu của lũ bạn, sự đe dọa của lão chủ, tất cả đều vô nghĩa, nếu mỗi ngày từ ngục tối ta được trông thấy nàng một lần, sá gì cái tự do nơi khác?
Prospéro quan sát rồi mỉm cười, vì bão tố, đắm tàu gặp gỡ buổi đầu, tình yêu chớm nở, tất cả đều là công trình trí tuệ của ngài. Ngài truyền dạy tên tù phải chất hàng đống củi cho thật nhanh. Ferdinand hầu như bị kiệt sức bởi công việc nặng nhọc đó; Miranda, ràn rụa nước mắt, cảm thương:
- Than ôi! –nàng khóc thút thít- đừng làm nhiều thế. Cha em đang vùi đầu trong sách vở, ít ra cũng đến ba tiếng. Anh hãy nghỉ đi! Em sẽ ôm củi thay anh một lát.
Ferdinand hốt hoảng ngăn lại, sau đó, quên mọi lời căn dặn của Prospéro, cả hai âu yếm chuyện trò. Nhà thông thái vô hình, thích thú chứng kiến từ đầu chí cuối. Miranda quên bẵng nghiêm lệnh của cha, thổ lộ tên mình và trả lời mọi câu hỏi của Ferdinand. Nàng say sưa lắng nghe những lời ngợi ca sắc đẹp của nàng. Gã trai trẻ si tình bảo rằng: nàng là người đ
àn bà
đẹp nhất trần gian.
- Em chẳng còn nhớ nổi gương mặt một người phụ nữ nào, -Miranda từ tốn nói- em cũng chưa bao giờ trông thấy người đ
àn ông nào khác, ngoài chàng và phụ thân em. Nhưng cứ tin em đi, em không sao hình dung nổi nét mặt nào khác, có thể khiến lòng em xao động, cũng chẳng mong người bạn nào khác ngoài chàng.
Cảm kích trước tấm lòng chân thực của Mirand, Ferdinand cũng kể chuyện đời mình, cho biết chàng là thái tử Naples. Nàng có muốn làm hoàng hậu và có hứa sẽ thành hôn với chàng không? Cô bé tội nghiệp, rưng rưng nước mắt mừng vui, chưa kịp trả lời thì Prospéro đã hiện ra và ban phúc cho đôi lứa. Ngài chỉ giả vờ nghiêm khắc thôi, Ferdinand đã hiên ngang và dũng cảm vượt qua mọi thử thách. Cầu mong chúng được hạnh phúc với nhau. Phần ngài, công trình vẫn còn dang dở.
Lúc đó, vài hành khách đắm tàu đã gặp lại nhau ở ven bờ. Họ ngạc nhiên chẳng biết vì sao quần áo thấm nước biển, đến lúc khô, vẫn giữ được vẻ tươi mát và lộng lẫy. Chưa chi họ đã cãi vã nhau ỏm tỏi, người thì bảo khí hậu nơi đây dịu mát và không khí thoảng mùi hương; kẻ lại phàn nàn có mùi bùn lầy, nhớp nhúa. Có người bảo trông thấy hoàng tử Ferdinand lội vào bờ, nhưng vua Naples không tin, cứ tức tưởi khóc con. Ông em Sébastien phiền trách ngài về đường lối chính trị nói chung và chuyến đi này nói riêng. Lão Gonzalo, với con tim hiền dịu và khối óc hão huyền, mười hai năm trước đây đã cứu mạng Prospéro, tuyên bố sẽ ban hành hiến pháp trên hòn đảo man dại và hoang vắng này:
- Trong nước cộng hòa của tôi –ông trầm tư- tôi sẽ làm ngược lại những điều nơi khác làm. Tôi hủy bỏ mậu dịch. Chẳng có tổ chức hành chánh, trường học, không nô lệ, không giàu sang, không nghèo khó, chẳng giao kèo, của cải hay di sản gì cả. Dứt bỏ mọi ưu tư, thần dân của tôi sẽ không biết công dụng của sắt thép hay thóc lúa, dầu hay rượu; các nguồn lợi thiên nhiên sẽ thuộc về mọi người, chẳng mảy may khổ nhọc. Sự bội phản, lừa đảo, gươm giáo, dao găm, súng hỏa mai, nhục hình sẽ bị hủy diệt tất. Được thiên nhiên cung ứng mọi thứ, đám dân làng của tôi sẽ sống trong một thời đại hoàng kim.
Bọn họ cười chế giễu ông ta rồi tất cả chìm vào giấc ngủ, ngẩn ngơ bởi tiếng nhạc của Ariel vô hình. Khi thức dậy, bọn họ túa ra khắp đảo, cố gắng tìm dấu vết Ferdinand. Các cụ già chẳng mấy chốc đã mệt rũ, bởi Ariel luôn tìm cách bỡn cợt họ. Họ lạc lối trong mê cung, nghe như có tiếng gầm rú của sư tử, thế là họ tuốt kiếm đâm loạn xạ vào khoảng không. Họ thấy từ đâu thoắt hiện một bàn tiệc linh đình, do những người quái dị như con rối chiêu đãi, nhưng đúng vào lúc họ sắp sửa ngồi vào bàn, thì một nữ ác thần hiện ra. Vẫn chính là Ariel, chê trách họ yếu đuối và bất lực, nhắc họ nhớ đến tội ác, mà giờ đây họ phải chịu quả báo; chẳng phải họ đã đ
ày ải Prospéro và cô con gái nhỏ vào cơn cuồng nộ của biển cả như vừa qua chính họ phải chịu đựng hay sao?
- Dù
đi tới đâu, sự hủy diệt vẫn âm ỉ bám riết các người. Chỉ còn dành cho các người chút hy vọng mong manh trong niềm sám hối và một cuộc sống nhơ bẩn.
Nữ ác thần biến mất trong khoảng không. Những kẻ có tội bàng hoàng, kinh khiếp, chạy tán loạn. Prospéro thầm nhủ:
- Linh phù
đang ra oai. Tất cả bọn họ đều nằm dưới quyền lực của ta.
Đoàn người trên tàu bị đưa đẩy đến một bến bờ khác, nơi tên Caliban ghớm ghiếc đang đốn củi, vừa hậm hực chửi bới và nguyền rủa chủ nhân mình. Vì Prospéro, tuy dạy tên súc sinh nói được, nhưng hắn chỉ biết nói toàn những lời mắng nhiếc và trù ẻo.
Một thủy thủ, gã Trinculo, thấy hắn trước tiên, nhạo báng hắn, chê hắn hôi mùi cá và chắc người ta sẽ vớ bở nếu mang hắn triển lãm ở hội chợ. Stéphano, một thủy thủ khác, cho rằng hắn đội lốt rừng rú để làm họ hoảng vía chơi. Họ thuần dưỡng hắn rất nhanh, vì lúc đắm tàu họ cứu thoát được một thùng rượu vang Cérès, giờ đây, họ trút cả chai vào miệng Caliban, vừa thích thú bảo cho Caliban biết rằng theo họ, đó là thứ tuyệt nhất trần gian.
- Mấy người này đẹp đẽ quá! –Caliban làu bàu- Rượu của họ tuyệt diệu. Có phải họ từ trên trời rơi xuống không?
Rồi do cứ vòi mãi chai rượu thần, đầu óc khốn khổ của hắn ta bỗng chốc quay cuồng. Hắn quị xuống trước trước mặt các chủ nhân thứ nước uống kỳ diệu và trở thành nô lệ của họ:
- Ôi con người kỳ diệu! Tôi sẽ chỉ cho ngài dòng suối mát trong, tôi sẽ hái quả ngọt, sẽ câu cá cho ngài. Để tôi đưa ngài đến nơi có những quả táo hoang, tôi sẽ dùng móng tay nắm lên, tôi sẽ chỉ ngài tổ chim cà cưỡng và cách bẫy sóc ra sao.
Rồi Caliban say khướt, lôi hai người bạn mới, vừa đi ngất ngưỡng, vừa ngêu ngao: Tớ chẳng thèm làm lờ bắt cá
Tớ chẳng thèm gom củi đốt lửa
Tớ chẳng thèm cọ rửa chén bát Tớ chẳng thèm lau dĩa nữa
Ban! Ban! Caliban!
Tự do! Thịnh vượng! Tự do! Tự do!
Tên cục súc không thấy rằng, khi ngỡ đã thoát khỏi cái ách nhân hậu của Prospéro, hắn lại dâng mình cho vị chủ mới bạo ngược, đần độn và dốt nát. Hai gã thủy thủ hỏi dò Caliban: - Nếu trên đảo chỉ có Prospéro và con gái, thì cả ba chúng ta có thể dễ dàng khống chế được ngay.
Caliban thấy như mình đã vượt khỏi quyền lực của Prospéro, kẻ chiếm đoạt gia sản của hắn, cái hòn đảo do Sycorax, mẹ hắn để lại.
- Khi nào lão ta ngủ, tôi sẽ bắt nộp các ngài –tên độc ác hí hởn nói- các ngài có thể đóng đinh vào đầu, hay đập vỡ sọ bằng gậy, mổ bụng bằng cọc nhọn, hay cắt cổ với dao bản. Không còn sách vở, lão cũng chỉ là thằng ngốc như tôi thôi, và lão sẽ chẳng còn điều khiển được âm binh nữa.
Caliban cũng quả quyết với Stéphano rằng hắn sẽ cưới nàng Miranda xinh đẹp, và sẽ làm chúa đảo. Ba gã say rượu hát vang:
Chế nhạo chúng! Canh giữ chúng!
Tư tưởng luôn tự do!
Nhưng một giọng nói từ trên không lặp lại điệp khúc đó, chính Ariel vừa khua chiếc trống con. Ba gã say, tâm hồn mê mẫn, mù quáng bước theo tiếng nhạc, băng qua bụi ngấy nhọn, khóm kim-tước chi gai góc và lùm kim-tước hoa sắc bén, họ rơi tõm xuống một cái ao bùn dơ đặc sệt, ngập tận cằm.
Hài lòng trước hạnh phúc của hai trẻ, Prospéro tặng họ một tiết mục nhạc hào hứng Cérès, Junon và iris (1) cùng đến ca hát chúc mừng họ.
Ferdinand ca ngợi đảo là một thiên đ
àng. Prospéro giải thích cho chàng biết cả buổi trình diễn ngoạn mục kia là do các hồn ma dựng nên, và những ảo ảnh êm đềm ấy rồi sẽ tan biến đi, không để lại dấu vết:
- Chúng ta được tạo ra cùng một thứ với chiêm bao, và cuộc sống phù du của chúng ta khác nào một giấc mơ.
Qua tin tức Ariel mang về, Prospéro thấy khó mà tìm ra một điểm tốt nào nơi Caliban, đó là một quái vật mà sự giáo dục đã tỏ ra vô hiệu. Các hồn ma biến thành chó săn. Ariel buông dây, thế là Caliban bỏ chạy, Stéphano chạy vắt giò lên cổ. Trinculo phi như ngựa, bị bầy quỉ rượt theo.
Từ nay, Prospéro là chủ đảo, không còn chối cãi vào đâu được, và giây phút chiến thắng cũng đã gần kề. Ariel giam giữ đức vua, công tước và
đám tùy tùng trong khu vườn chanh huyền bí, khiến họ không thể nào thoát ra được, và tuyệt vọng, họ òa lên khóc.
- Nếu thấy họ, ngài hẳn sẽ rũ lòng thương hại, gã nói với Prospéro.
- Ngươi tin thế à?
- Nếu tôi là người, tôi sẽ tội nghiệp cho họ lắm.
- Ta cũng xót thương cho họ như vậy –nhà bác học Prospéro ôn tồn đáp- Lòng khoan dung bao giờ cũng cao cả hơn sự báo thù. Bởi họ đã khóc than và hối hận, ta đã đạt được mục đích. Hãy trả tự do cho họ, Ariel! Ta thu hồi bùa phép. Hãy để họ hoàn hồn lại.
Prospéro, còn lại một mình, chào giã biệt hòn đảo và từ bỏ mọi ma thuật:
- Thiên tinh của các giòng suối, của những ngọn đồi, của những ao hồ yên tĩnh và lùm cây xanh tươi! Bước chân thoáng nhẹ của các người không in vết trên cát, các ngươi hãy theo thần Neptune(2) khi ngài rút xuống và bỏ chạy khi ngài tràn lên, và các ngươi, bọn quỷ yêu, vẽ trên cỏ từng vòng tròn huyền diệu; dưới trăng khuya, các ngươi tiêu khiển bằng cách nửa đ
êm cho nấm dưới đất mọc lên, để các tiên nữ ngồi lên mà quây quần tụ hội. Các ngươi thức dậy trong giờ giới nghiêm. Các ngươi đã giúp ta làm mặt trời tối lại giữa trưa, nổi phong ba và dâng trào sóng bể, khiến sấm sét vang rền và nhổ bật rễ nào thông, nào bách hương, các ngươi hãy chứng giám cho ta! Ta nguyện từ bỏ yêu pháp. Theo tiếng nhạc lả lướt của các ngươi, ta bẻ gẫy chiếc đũa thần. Ta chôn vùi nó dưới đất đen, và ta sẽ dìm tất cả sách vở xuống tận đáy biển sâu! Tất cả những nạn nhân đắm tàu đều tụ hội đông đủ, theo sự hướng dẫn của Ariel. Prospéro cởi chiếc áo dài phù thủy ra, mặc áo ngắn vào, đội mũ lên, đeo gươm lại “như thuở nào ở Milan”, Ariel vừa giúp ngài vừa rầm rĩ bài hát:
Ong hút mật nơi nào, ta hút nơi ấy
Ta ngủ giữa lòng cây anh thảo
Ta ẩn náu khi chim cú cất tiếng kêu ai oán
Ta cởi trên lưng dơi
Mùa hè trôi qua vui vẻ
Vui thay, vui thay, từ đây ta sống giữa đóa hoa đong đưa dưới cuống
Sững sờ, họ ngại ngùgn chưa nhận ta Prospéro. Lão Gonzalo tốt bụng, là người đầu tiên trấn tĩnh, há chẳng phải nhờ lão mà Prospéro được bảo toàn tính mạng đó sao? Công tước Antonio và
đức vua Naples ăn năn hối lỗi, tha thiết thỉnh cầu được dung thứ, ngài Prospéro quảng đại bèn hoan hỉ chấp nhận ngay. Đoạn ngài mở hé vách ngăn hang động, mọi người trông thấy đôi trai gái Ferdinand và Miranda đang bình thản chơi cờ.
Hãy hình dung niềm vui của hai cha con khi gặp lại nhau. Phần Miranda, nàng bàng hoàng trước một thế giới chưa hề quen biết, có những con người cũng đẹp đẽ như kẻ vừa đến với nàng. Đức vua Naples không quên tấm tắc khen nàng là một nhân vật siêu phàm, còn Ferdinand kiêu hãnh và vui sướng, trình diện với phụ vương người vợ tương lai, ái nữ của nhà bác học Prospéro.
- Ôi chẳng có nguồn vui nào sánh nổi –lão Gonzalo la to- Chúng ta đều gặp lại nhau cả, trong khi tất cả chúng ta ngỡ đã cùng đường, nghẽn lối.
Chỉ có hai gã thủy thủ say rượu và tên cục súc Caliban là không mấy vui. Hắn sợ bị trừng phạt, hứa sẽ triệt để phục tùng, nên được ân xá.
Ariel đánh thức toàn bộ thủy thủ đoàn, sửa sang và trang bị lại con tàu bằng phép lạ, để sẵn sàng đưa mọi người về Naples, nơi sẽ tổ chức hôn lễ thật huy hoàng. Prospéro đảm bảo chuyến đi sẽ nhanh chóng, thuận buồm xuôi gió trên mặt biển yên tĩnh. Ngài giải thoát cho Ariel, để linh hồn gã được phiêu diêu nơi miền cực lạc.
- Từ đây –Prospéro nói- gỡ bỏ hết bùa linh, ta cũng trở nên yếu đuối như tất cả mọi người. Chú thích
1) Cérès: nông thần
Junon: nữ thần, Jupiter
Iris, được xem như là sứ giả của các vị thần, có nhiệm vụ đưa các linh hồn xuống hỏa ngục, chiếc khăn choàng bảy màu của nàng trùng hợp với bảy sắc cầu vồng
2) Neptune: hải thần 2903
Cơn Bão
Prospéro , công tước Milan, là một vị quân vương lạ lùng. Cả đời, ngài vùi đầu sống giữa đống sách vở và các ống nghiệm, đắm hồn trong những cuộc nghiên cứu huyền bí, bỏ mặc việc triều chính cho người em trai là Antonio. Hậu quả thật tai hại. Gã Antonio đầy tham vọng, lợi dụng việc rời xa binh quyền và lòng tin cậy mù quáng của ngài để chiếm đoạt, trước tiên là mọi quyền lợi của công quốc, sau đó là lòng dân Milan. Tên gian tặc nghĩ mình mới thực sự là
Mặt khác, Prospéro cũng nổ lực cải hóa tên Caliban gớm ghiếc, mong mang lại tính người cho hắn. Ngài đã dạy cho hắn nói, cho hắn uống nước và ăn quả ngọt, dạy cho hắn tên các vị tinh tú, -cái to sáng rực ban ngày và cái nhỏ lấp lánh trong đ
Trong lúc đó, thời gian vùn vụt trôi qua. Miranda lớn lên, càng thêm xinh đẹp và duyên dáng. Đến năm mười lăm tuổi, nàng chưa hề biết một người nào khác ngoài cha nàng, nên bao tâm tưởng, nàng đều gởi trọn cho cha. Hơn nữa, nhờ môn khoa học huyền bí đã trở nên điêu luyện sau mười hai năm ẩn dật và nghiền ngẫm, ngài có thể đọc mọi ý nghĩ giấu kín trong đầu con gái như trên trang sách. Ngài xét thấy thời gian đã chín muồi để có thể sử dụng sở trường khoa học của mình mà làm chủ mọi biến cố.
Ông em Antonio, thay ngài làm công tước Milan tháp tùng đức vua Naples và hoàng tử Ferdinand, đang lênh đ
Chúng ta đắm tàu mất! -họ hét lên. Giờ này, ta xin đổi ngàn dặm biển để lấy một mảnh đất khô cằn, một bờ thạch thảo hay một bụi kim-tước chi gai góc. Chết trên khô vẫn sướng hơn! Hoàng tử Ferdinand kinh hoàng nhảy khỏi tàu, thốt lên:
- Tất cả yêu tinh quỷ quái đều tề tựu về đây, chắc địa ngục vắng không!
Và
Nhưng Ariel đã cẩn thận chọn nơi đắm tàu thật gần bờ. Vẫn theo lệnh Prospéro, gã phân tán nạn nhân ra từng nhóm, cho họ trôi dạt vào nhiều điểm khác nhau trên đảo, rồi về báo cáo với chủ:
- Chả thiếu mặt ai trong đoàn người trên tàu cả, dù rằng ai cũng ngỡ rằng mình là người duy nhất sống sót: họ mệt nhoài nên ngủ cả, bùa mê của ta sẽ khiến họ còn ngủ lâu: con tàu đỗ an toàn dưới bến, dù chẳng ai thấy được nó. Công tước và vua Naples đều đang tìm hoàng tử Ferdinand, nhưng chẳng mong gì gặp lại. Phần chàng vẫn bình an vô sự, khoanh tay trước ngực, khóc than cho cái chết của phụ vương mà chàng ngỡ đã chìm sâu dưới đáy biển. Chàng chẳng bị thương tích gì, quần áo tuy hơi ướt đẫm nước biển, lại thấy mát mẻ hơn bao giờ. Đoàn tàu còn lại, tiếp tục cuộc hành trình, buồn bã giương buồm về Naples, tất cả đều quả quyết, đã trông thấy tàu nhà vua chìm lỉm và
Ariel nhận lệnh mới, lại hóa ra nữ thần hải dương, ra biển hát một ca khúc của mỹ nhân ngư: Hãy chạy lên bãi cát vàng
Nẵm chặt tay nhau
Nếu các ngươi đã gặp và hôn phải làn sóng dữ
Cứ tưng bừng nhảy múa đó đây
Hãy đến đây, những tâm hồn kỳ diệu, cùng cất tiếng hát với ta.
Bài ca đánh thức hoàng tử Ferdinand, đang còn thiếp ngủ vì mệt.
Ariel hát tiếp:
Dưới năm sải nước, cha ngươi vừa gục ngã
Xương ngài sẽ biến thành san hô
Mắt ngài sẽ là hai viên ngọc
Chẳng có gì của ngài mất đi
Nhưng đại dương sẽ biến tất cả thành những vật hiếm hoi và quí báu
Các nữ thủy thần sẽ từng giờ đổ chuông gọi hồn Ngài
Kia! Hãy chăm chú lắng nghe: Đinh, đong, đinh, đong!
Choàng dậy, Ferdinand cảm thấy nỗi khổ đau cơ hồ nguôi dần. Chàng bước lần theo tiếng hát đang bay xa. Tiếng hát đưa chàng đến một lùm cây rậm rạp: dưới bóng mát, Prospéro và Miranda đang ngồi. Miranda ngước mắt lên:
- Con nhìn gì đấy? –cha nàng hỏi
- Chắc hẳn đó là một con ma, -cô gái khẽ đáp- Nó nhìn quanh quất. Nó đẹp quá, chỉ có thể là một con ma thôi.
- Không đâu, con ạ! Đó là một con người, cũng ăn, ngủ và sống như chúng ta. Đó là một chàng trai trẻ, trên chiếc tàu vừa bị đắm. Chàng lạc mất cả bạn đồng hành và
Miranda vẫn tưởng rằng: mọi con người đều phải có bộ mặt trịnh trọng và chòm râu dài như Prospéro. Yên lòng và thích thú, nàng tiến lại gần. Hoàng tử Ferdinand, vẫn còn mê mẫn bởi tiếng hát Ariel, chợt ngất ngây trước tấm nhan sắc kỳ diệu, ngỡ mình đã lọt vào hòn đảo thần tiên. Miranda không thể là người trần. Nên chàng rụt rè hỏi: phải chăng nàng là thần nữ chốn này?
- Tôi chỉ là một cô gái bình thường –Miranda bẽn lẽn đáp. Nàng sắp sửa kể lại chuện đời mình, bởi nàng đâu đã biết đến tính đa nghi và lòng ngờ vực. Nhưng Prospéro kịp ngăn lại, ngài thấy rõ hai trẻ ngây thơ đã yêu nhau, ngay phút đầu gặp gỡ, -như người đời vẫn nói. Để thử thách Ferdinand, ngài vờ nghi chàng dối trá và
- Hãy theo ta –ngài cất giọng nghiêm khắc- Ta sẽ giam ngươi lại và trói chặt tay chân, ngươi sẽ phải uống nước biển, ăn vỏ sò, rễ khô và dẻ rừng.
- Ta chẳng cần làm gì cả! –Ferdinand hiên ngang cự lại, tay đặt vào chuôi kiếm. Nhưng Prospéro chỉ cần vung đũa thần lên, là hoàng tử đã bị trói chặt. Miranda thấy động lòng trắc ẩn.
- Thưa phụ thân, hãy thương xót chàng. Con xin đảm bảo cho chàng đấy! Chàng là người thứ hai mà con được thấy, nhưng con tin chàng ngay thẳng và chân thực.
- Sao? -Cha nàng hầm hừ- Con thấy hắn đẹp à, vì con chỉ biết có mỗi mình hắn và Caliban. Nhưng cha nói cho con rõ, này cô bé khờ khạo của cha, sánh với bao kẻ khác, hắn cũng chỉ là một tên Caliban thôi.
- Chắc là con quá khiêm tốn trong tình yêu, –cô gái nhỏ nhẹ nói- bởi lẽ con chẳng mong ước người nào khác quyến rũ hơn.
- Ngươi không có quyền cãi lệnh ta, nào theo ta ngay! –Prospéro quát lên, và vị hoàng tử sững sờ riu ríu bước theo.
- Linh hồn ta bị ràng buộc, -hoàng tử thầm thì- Nhưng cái chết của cha ta, sự yếu đuối và mệt mỏi của ta, tai nạn đắm tàu của lũ bạn, sự đe dọa của lão chủ, tất cả đều vô nghĩa, nếu mỗi ngày từ ngục tối ta được trông thấy nàng một lần, sá gì cái tự do nơi khác?
Prospéro quan sát rồi mỉm cười, vì bão tố, đắm tàu gặp gỡ buổi đầu, tình yêu chớm nở, tất cả đều là công trình trí tuệ của ngài. Ngài truyền dạy tên tù phải chất hàng đống củi cho thật nhanh. Ferdinand hầu như bị kiệt sức bởi công việc nặng nhọc đó; Miranda, ràn rụa nước mắt, cảm thương:
- Than ôi! –nàng khóc thút thít- đừng làm nhiều thế. Cha em đang vùi đầu trong sách vở, ít ra cũng đến ba tiếng. Anh hãy nghỉ đi! Em sẽ ôm củi thay anh một lát.
Ferdinand hốt hoảng ngăn lại, sau đó, quên mọi lời căn dặn của Prospéro, cả hai âu yếm chuyện trò. Nhà thông thái vô hình, thích thú chứng kiến từ đầu chí cuối. Miranda quên bẵng nghiêm lệnh của cha, thổ lộ tên mình và trả lời mọi câu hỏi của Ferdinand. Nàng say sưa lắng nghe những lời ngợi ca sắc đẹp của nàng. Gã trai trẻ si tình bảo rằng: nàng là người đ
- Em chẳng còn nhớ nổi gương mặt một người phụ nữ nào, -Miranda từ tốn nói- em cũng chưa bao giờ trông thấy người đ
Cảm kích trước tấm lòng chân thực của Mirand, Ferdinand cũng kể chuyện đời mình, cho biết chàng là thái tử Naples. Nàng có muốn làm hoàng hậu và có hứa sẽ thành hôn với chàng không? Cô bé tội nghiệp, rưng rưng nước mắt mừng vui, chưa kịp trả lời thì Prospéro đã hiện ra và ban phúc cho đôi lứa. Ngài chỉ giả vờ nghiêm khắc thôi, Ferdinand đã hiên ngang và dũng cảm vượt qua mọi thử thách. Cầu mong chúng được hạnh phúc với nhau. Phần ngài, công trình vẫn còn dang dở.
Lúc đó, vài hành khách đắm tàu đã gặp lại nhau ở ven bờ. Họ ngạc nhiên chẳng biết vì sao quần áo thấm nước biển, đến lúc khô, vẫn giữ được vẻ tươi mát và lộng lẫy. Chưa chi họ đã cãi vã nhau ỏm tỏi, người thì bảo khí hậu nơi đây dịu mát và không khí thoảng mùi hương; kẻ lại phàn nàn có mùi bùn lầy, nhớp nhúa. Có người bảo trông thấy hoàng tử Ferdinand lội vào bờ, nhưng vua Naples không tin, cứ tức tưởi khóc con. Ông em Sébastien phiền trách ngài về đường lối chính trị nói chung và chuyến đi này nói riêng. Lão Gonzalo, với con tim hiền dịu và khối óc hão huyền, mười hai năm trước đây đã cứu mạng Prospéro, tuyên bố sẽ ban hành hiến pháp trên hòn đảo man dại và hoang vắng này:
- Trong nước cộng hòa của tôi –ông trầm tư- tôi sẽ làm ngược lại những điều nơi khác làm. Tôi hủy bỏ mậu dịch. Chẳng có tổ chức hành chánh, trường học, không nô lệ, không giàu sang, không nghèo khó, chẳng giao kèo, của cải hay di sản gì cả. Dứt bỏ mọi ưu tư, thần dân của tôi sẽ không biết công dụng của sắt thép hay thóc lúa, dầu hay rượu; các nguồn lợi thiên nhiên sẽ thuộc về mọi người, chẳng mảy may khổ nhọc. Sự bội phản, lừa đảo, gươm giáo, dao găm, súng hỏa mai, nhục hình sẽ bị hủy diệt tất. Được thiên nhiên cung ứng mọi thứ, đám dân làng của tôi sẽ sống trong một thời đại hoàng kim.
Bọn họ cười chế giễu ông ta rồi tất cả chìm vào giấc ngủ, ngẩn ngơ bởi tiếng nhạc của Ariel vô hình. Khi thức dậy, bọn họ túa ra khắp đảo, cố gắng tìm dấu vết Ferdinand. Các cụ già chẳng mấy chốc đã mệt rũ, bởi Ariel luôn tìm cách bỡn cợt họ. Họ lạc lối trong mê cung, nghe như có tiếng gầm rú của sư tử, thế là họ tuốt kiếm đâm loạn xạ vào khoảng không. Họ thấy từ đâu thoắt hiện một bàn tiệc linh đình, do những người quái dị như con rối chiêu đãi, nhưng đúng vào lúc họ sắp sửa ngồi vào bàn, thì một nữ ác thần hiện ra. Vẫn chính là Ariel, chê trách họ yếu đuối và bất lực, nhắc họ nhớ đến tội ác, mà giờ đây họ phải chịu quả báo; chẳng phải họ đã đ
- Dù
Nữ ác thần biến mất trong khoảng không. Những kẻ có tội bàng hoàng, kinh khiếp, chạy tán loạn. Prospéro thầm nhủ:
- Linh phù
Đoàn người trên tàu bị đưa đẩy đến một bến bờ khác, nơi tên Caliban ghớm ghiếc đang đốn củi, vừa hậm hực chửi bới và nguyền rủa chủ nhân mình. Vì Prospéro, tuy dạy tên súc sinh nói được, nhưng hắn chỉ biết nói toàn những lời mắng nhiếc và trù ẻo.
Một thủy thủ, gã Trinculo, thấy hắn trước tiên, nhạo báng hắn, chê hắn hôi mùi cá và chắc người ta sẽ vớ bở nếu mang hắn triển lãm ở hội chợ. Stéphano, một thủy thủ khác, cho rằng hắn đội lốt rừng rú để làm họ hoảng vía chơi. Họ thuần dưỡng hắn rất nhanh, vì lúc đắm tàu họ cứu thoát được một thùng rượu vang Cérès, giờ đây, họ trút cả chai vào miệng Caliban, vừa thích thú bảo cho Caliban biết rằng theo họ, đó là thứ tuyệt nhất trần gian.
- Mấy người này đẹp đẽ quá! –Caliban làu bàu- Rượu của họ tuyệt diệu. Có phải họ từ trên trời rơi xuống không?
Rồi do cứ vòi mãi chai rượu thần, đầu óc khốn khổ của hắn ta bỗng chốc quay cuồng. Hắn quị xuống trước trước mặt các chủ nhân thứ nước uống kỳ diệu và trở thành nô lệ của họ:
- Ôi con người kỳ diệu! Tôi sẽ chỉ cho ngài dòng suối mát trong, tôi sẽ hái quả ngọt, sẽ câu cá cho ngài. Để tôi đưa ngài đến nơi có những quả táo hoang, tôi sẽ dùng móng tay nắm lên, tôi sẽ chỉ ngài tổ chim cà cưỡng và cách bẫy sóc ra sao.
Rồi Caliban say khướt, lôi hai người bạn mới, vừa đi ngất ngưỡng, vừa ngêu ngao: Tớ chẳng thèm làm lờ bắt cá
Tớ chẳng thèm gom củi đốt lửa
Tớ chẳng thèm cọ rửa chén bát Tớ chẳng thèm lau dĩa nữa
Ban! Ban! Caliban!
Tự do! Thịnh vượng! Tự do! Tự do!
Tên cục súc không thấy rằng, khi ngỡ đã thoát khỏi cái ách nhân hậu của Prospéro, hắn lại dâng mình cho vị chủ mới bạo ngược, đần độn và dốt nát. Hai gã thủy thủ hỏi dò Caliban: - Nếu trên đảo chỉ có Prospéro và con gái, thì cả ba chúng ta có thể dễ dàng khống chế được ngay.
Caliban thấy như mình đã vượt khỏi quyền lực của Prospéro, kẻ chiếm đoạt gia sản của hắn, cái hòn đảo do Sycorax, mẹ hắn để lại.
- Khi nào lão ta ngủ, tôi sẽ bắt nộp các ngài –tên độc ác hí hởn nói- các ngài có thể đóng đinh vào đầu, hay đập vỡ sọ bằng gậy, mổ bụng bằng cọc nhọn, hay cắt cổ với dao bản. Không còn sách vở, lão cũng chỉ là thằng ngốc như tôi thôi, và lão sẽ chẳng còn điều khiển được âm binh nữa.
Caliban cũng quả quyết với Stéphano rằng hắn sẽ cưới nàng Miranda xinh đẹp, và sẽ làm chúa đảo. Ba gã say rượu hát vang:
Chế nhạo chúng! Canh giữ chúng!
Tư tưởng luôn tự do!
Nhưng một giọng nói từ trên không lặp lại điệp khúc đó, chính Ariel vừa khua chiếc trống con. Ba gã say, tâm hồn mê mẫn, mù quáng bước theo tiếng nhạc, băng qua bụi ngấy nhọn, khóm kim-tước chi gai góc và lùm kim-tước hoa sắc bén, họ rơi tõm xuống một cái ao bùn dơ đặc sệt, ngập tận cằm.
Hài lòng trước hạnh phúc của hai trẻ, Prospéro tặng họ một tiết mục nhạc hào hứng Cérès, Junon và iris (1) cùng đến ca hát chúc mừng họ.
Ferdinand ca ngợi đảo là một thiên đ
- Chúng ta được tạo ra cùng một thứ với chiêm bao, và cuộc sống phù du của chúng ta khác nào một giấc mơ.
Qua tin tức Ariel mang về, Prospéro thấy khó mà tìm ra một điểm tốt nào nơi Caliban, đó là một quái vật mà sự giáo dục đã tỏ ra vô hiệu. Các hồn ma biến thành chó săn. Ariel buông dây, thế là Caliban bỏ chạy, Stéphano chạy vắt giò lên cổ. Trinculo phi như ngựa, bị bầy quỉ rượt theo.
Từ nay, Prospéro là chủ đảo, không còn chối cãi vào đâu được, và giây phút chiến thắng cũng đã gần kề. Ariel giam giữ đức vua, công tước và
- Nếu thấy họ, ngài hẳn sẽ rũ lòng thương hại, gã nói với Prospéro.
- Ngươi tin thế à?
- Nếu tôi là người, tôi sẽ tội nghiệp cho họ lắm.
- Ta cũng xót thương cho họ như vậy –nhà bác học Prospéro ôn tồn đáp- Lòng khoan dung bao giờ cũng cao cả hơn sự báo thù. Bởi họ đã khóc than và hối hận, ta đã đạt được mục đích. Hãy trả tự do cho họ, Ariel! Ta thu hồi bùa phép. Hãy để họ hoàn hồn lại.
Prospéro, còn lại một mình, chào giã biệt hòn đảo và từ bỏ mọi ma thuật:
- Thiên tinh của các giòng suối, của những ngọn đồi, của những ao hồ yên tĩnh và lùm cây xanh tươi! Bước chân thoáng nhẹ của các người không in vết trên cát, các ngươi hãy theo thần Neptune(2) khi ngài rút xuống và bỏ chạy khi ngài tràn lên, và các ngươi, bọn quỷ yêu, vẽ trên cỏ từng vòng tròn huyền diệu; dưới trăng khuya, các ngươi tiêu khiển bằng cách nửa đ
Ong hút mật nơi nào, ta hút nơi ấy
Ta ngủ giữa lòng cây anh thảo
Ta ẩn náu khi chim cú cất tiếng kêu ai oán
Ta cởi trên lưng dơi
Mùa hè trôi qua vui vẻ
Vui thay, vui thay, từ đây ta sống giữa đóa hoa đong đưa dưới cuống
Sững sờ, họ ngại ngùgn chưa nhận ta Prospéro. Lão Gonzalo tốt bụng, là người đầu tiên trấn tĩnh, há chẳng phải nhờ lão mà Prospéro được bảo toàn tính mạng đó sao? Công tước Antonio và
Hãy hình dung niềm vui của hai cha con khi gặp lại nhau. Phần Miranda, nàng bàng hoàng trước một thế giới chưa hề quen biết, có những con người cũng đẹp đẽ như kẻ vừa đến với nàng. Đức vua Naples không quên tấm tắc khen nàng là một nhân vật siêu phàm, còn Ferdinand kiêu hãnh và vui sướng, trình diện với phụ vương người vợ tương lai, ái nữ của nhà bác học Prospéro.
- Ôi chẳng có nguồn vui nào sánh nổi –lão Gonzalo la to- Chúng ta đều gặp lại nhau cả, trong khi tất cả chúng ta ngỡ đã cùng đường, nghẽn lối.
Chỉ có hai gã thủy thủ say rượu và tên cục súc Caliban là không mấy vui. Hắn sợ bị trừng phạt, hứa sẽ triệt để phục tùng, nên được ân xá.
Ariel đánh thức toàn bộ thủy thủ đoàn, sửa sang và trang bị lại con tàu bằng phép lạ, để sẵn sàng đưa mọi người về Naples, nơi sẽ tổ chức hôn lễ thật huy hoàng. Prospéro đảm bảo chuyến đi sẽ nhanh chóng, thuận buồm xuôi gió trên mặt biển yên tĩnh. Ngài giải thoát cho Ariel, để linh hồn gã được phiêu diêu nơi miền cực lạc.
- Từ đây –Prospéro nói- gỡ bỏ hết bùa linh, ta cũng trở nên yếu đuối như tất cả mọi người. Chú thích
1) Cérès: nông thần
Junon: nữ thần, Jupiter
Iris, được xem như là sứ giả của các vị thần, có nhiệm vụ đưa các linh hồn xuống hỏa ngục, chiếc khăn choàng bảy màu của nàng trùng hợp với bảy sắc cầu vồng
2) Neptune: hải thần 2903
Labels:
TruyenNgan,
William Shakespeare
10:15 PM
Caymbeline là vua Anh quốc, đó là một ông vua bất hạnh, vì sau khi các binh đoàn của Jules César rút đi, triều đại ngài luôn bị phá rối, bọn lính La Mã thường xuyên quấy nhiễu, hai đứa con trai ngài, đã khôn lớn và tỏ ra dũng cảm, đã bị bắt đi cùng với bà vú, trong trường hợp rất bí ẩn, hoàng hậu lại qua đời. Tuy nhiên, dù bao hoạn nạn dồn dập xảy ra, tuổi già của ngài cũng cảm thấy được an ủi. Ngài đã tục nguyền với một góa phụ, biết hết lòng lo lắng cho ngài, mẹ của một chàng trai to lớn, mà Cymbeline rất quí mến, trong khi mọi người đều ghét cay ghét đắng cái gã Cloten hợm hĩnh. Nhưng phần lớn niềm vui của vị vua già là do công chúa Imogène, đứa con duy nhất còn lại của ngài, cô gái sắc nước hương trời và là người kế nghiệp của vương quốc.
Cymbeline, nhu nhược và cả tin, hoàn toàn tin cẩn bà thứ phi, bà ta lúc nào cũng chăm chú nghiên cứu các loài dược thảo và
đặc tính của chúng, khảo sát các tính chất, cho bọn tì nữ hái các cây lá có thể chữa bệnh, cũng như có thể giết người. Chỉ có mỗi nhà vua là không rõ bà thù hận Imogène đến mức nào, và sự mù quáng đó đã gây ra biết bao tai họa.
Để chiều ý hoàng hậu và cũng vì ngài tưởng lầm Cloten đứng đắn và dũng cảm, ngài muốn gả Imogène cho anh ta. Cô công chúa trẻ đẹp, sáng suốt và tinh tế hơn, rất khinh ghét kẻ cầu hôn ấy, vả lại tim nàng đã hướng về người khác, chàng Posthumus. Sau khi cha mẹ qua đời, chàng được nuôi dưỡng trong triều cùng với nàng. Cha chàng nổi tiếng dũng liệt đến mức thiên hạ tặng cho biệt danh là Léonatus, sư tử. Dù thuộc dòng quý tộc và thừa hưởng danh vọng của thân quyến, Posthumus rất nghèo, và vua Cymbeline đã đón chàng về nuôi dưỡng thật chu đáo. Chàng đã trở thành một hiệp sĩ toàn diện, và người ta chỉ có thể phiền trách chàng về sự nghèo túng mà thôi. Nhưng Imogène chẳng mấy quan tâm đến sự nghèo khổ của chàng, vì cô yêu chàng, và bởi e ngại cơn phẫn nộ của vua cha, và sự theo đuổi ráo riết của Cloten, cô đã bí mật thành hôn với Posthumus.
Nhưng mọi việc đều vỡ lẽ ngay, do các thủ đoạn của hoàng hậu. Cymbeline, bị bà vợ yêu xúi dục, đã ra lệnh trục xuất Posthumus ra khỏi vương quốc, và quản thúc Imogène trong lâu đ
ài. Tuy nhiên, đôi vợ chồng trẻ vẫn tìm cách gặp lại nhau giây lát, trước khi Posthumus xuống tàu rời khỏi Anh quốc. Đó là một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và
đau buồn.
- Điều duy nhất có thể giúp em chịu đựng nổi cuộc sống –Imogène tha thiết nói- đó là ý nghĩ trên đời này còn có một kho tàng mà
đôi mắt em có ngày sẽ được thấy lại.
- Nữ hoàng của anh, người yêu quí nhất đời anh –Posthumus đáp, giọng thật nồng nàn- em đừng khóc nữa. Anh sẽ là người chồng chung thủy như vẫn hằng nguyện ước. Nhưng giờ đây, em yêu ơi! Phải để anh ra đi! Nếu những lời từ biệt cứ kéo dài mãi, trong suốt khoảnh khắc còn lại giữa đôi ta, thì niềm đau chia cách sẽ càng tăng lên nhiều. Thôi, xin giã từ em!
- Không hãy nán lại giây phút. -Imogène rên rỉ- Dẫu anh chỉ xa em để đi dạo mát, buổi chia ly này cũng chỉ là ngắn ngủi. Anh hãy nhìn, đây là chiếc nhẫn kim cương do mẹ em để lại, hãy đeo vào và gìn giữ nó cho đến ngày nào Imogène chết đi, rồi anh sẽ cưới vợ khác.
Posthumus nhận lấy món báu vật, rồi đeo vào cổ tay xinh xắn của Imogène chiếc vòng, tín vật tình yêu, mà nàng hứa sẽ chẳng bao giờ cởi ra. Rồi chàng ra đi, xua đuổi bởi Cymbeline, với những câu nguyền rủa thậm tệ. Thật lâu sau đó, nàng chỉ luôn tơ tưởng đến chuyến đi thê thảm. Nàng tự nhủ: “Sao ta không là con của một người chăn cừu và Posthumus chẳng là con của một chú mục đồng lân cận!”. Trong khi đó, Cymbeline, giận dữ vì thấy nàng tuy sầu muộn đến héo hon, nhưng vẫn nhất mực yêu kẻ bị lưu đ
ày, đã không ngớt hầm hừ và thốt bao lời trách mắng, mà nàng chẳng muốn nghe. Tâm hồn nàng dõi theo người lữ khách đến tận bến cảng và xa hơn thế nữa. Nàng mòn mỏi đợi chờ ngày về của lão Pisaniô mà nàng phái đi dọ tin và rất ảo não khi gặp ông quay lại, bởi ông đã chứng kiến chuyến đi của Posthumus.
- Những lời cuối cùng, chàng nói gì? –nàng hỏi.
- Nữ hoàng của anh! Nữ hoàng của anh! Rồi chàng vẫy khăn và
đưa lên môi hôn! Cho đến khi mắt còn phân biệt được tôi giữa đám đông, chàng vẫn đứng trên boong tàu, phe phẫy đôi găng tay, cái nón, hay chiếc khăn, như muốn cho tôi hiểu rằng, dù con tàu có lướt nhanh, hồn chàng vẫn lờ lững phía sau.
- Lẽ ra –Imogène nói- người phải đợi đến lúc chàng nhỏ như con chim mới được rời mắt khỏi chàng. Nếu là ta, ta sẽ nhìn chàng cho đến lúc khoảng cách khiến chàng nhỏ tợ con muỗi, tợ đầu cây kim, cho đến khi chàng tan biến trong không khí. Rồi ta sẽ ngoảnh mặt đi mà khóc. Và ta cũng sẽ không cáo biệt chàng, bởi ta còn nhiều điều lý thú muốn nói cho chàng nghe:“rằng ta nghĩ đến chàng vào những giờ nào đó, rằng chàng sẽ gặp ta trong những lời cầu nguyện, lúc đọc kinh buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, vì lúc đó ta đang trên trời để đợi chàng. Nhưng trước khi được trao cho chàng cái hôn từ biệt, cha ta đã bước vào hệt như cơn gió bấc, ông ta đã làm héo tàn mọi mùa hoa nở”.
Công chúa Imogène sầu muộn đã chuyện trò với gã nô bộc trung thành như thế đấy, trong khi chờ đợi tin tức người chồng yêu quí.
Trong lúc đó, Posthumus đã đến La Mã cho qua ngày tháng lưu đ
ày, nơi đây, anh gặp lại vài đồng đội cũ, buộc anh về sống chung với họ. Anh chỉ khuây khỏa nỗi buồn đôi chút những khi ca ngợi người yêu, quả quyết rằng nàng là người đẹp nhất, trong trắng nhất, đức hạnh nhất, và thủy chung hơn bất cứ cô gái Pháp hay Italia nào. Anh ví nàng như viên kim cương vô giá và sáng ngời mà họ vẫn trầm trồ trên ngón tay anh. Nhưng một chiều kia, có một gã Italia, tên Iachimo, đến thách thức chàng hãy chứng minh lời nói, vì gã không chịu tin rằng Imogène lại có thể dửng dưng với một tay hiệp sĩ nào đó trong thời gian vắng chồng. Iachimo tự tin vào sức quyến rũ của mình, gã cho rằng tất cả đ
àn bà
đều đỏm dáng, nông nổi, mau đổi thay và gã đoan chắc mình có thể tiếp xúc dễ dàng với người vợ chung thủy và u buồn nhất, rằng gã sẽ lãnh vai trò giải khuây và mang lại hứng thú cho nàng, đến mức khiến nàng quên khuấy kẻ lưu đ
ày trong một thời gian.
Posthumus tin chắc vợ mình chẳng thiết tha bất cứ điều gì khi vắng anh, song le, không chịu nổi, cuối cùng anh đã khinh xuất khi nhận đánh cuộc với Iachimo. Anh cuộc chiếc nhẫn kim cương của mình với mười ngàn đồng Đuy-ca, phân nửa gia sản của Iachimo, là chẳng ai có thể mang lại bằng chứng rằng vợ anh có phút nào đó quên anh -rồi đặt tay lên đốc kiếm, anh tự hứa sẽ trừng phạt đích đáng kẻ hợm hĩnh, cứ tưởng dễ dàng lung lạc trái tim chung thủy của một người đ
àn bà.
Iachimo xoay được nhiều thư giới thiệu để tiến triều và
đi ngay sang Anh quốc. Ngay khi đến nơi, gã xin được yết kiến công chúa. Nàng đón tiếp vị khách La Mã với sự vồn vã ân cần của người đ
àn bà
đã từ lâu mong ngóng tin chồng. Dù rằng nhan sắc diễm lệ và thái độ trang nghiêm của nàng có làm gã nao núng trong những phút đầu tiên, nhưng kẻ bạo gan vẫn không mất bình tĩnh, gã mua chuộc lòng nàng bằng cách nhắc đến Posthumus và cuộc sống của chàng ở La Mã.
“Anh ta vui vẻ quá chừng, gã nói. Hiếm có khách lạ nào ở La Mã lại vui tính và hay đ
ùa cợt đến thế: thiên hạ gọi anh chàng là gã “người Anh vui vẻ”! Imogène trầm ngâm, trả lời:
- Lúc còn ở đây, chàng vẫn hay buồn nhiều khi thật vô cớ.
Gã mô tả Posthumus khác hẳn với hình ảnh mà nàng khắc sâu trong tâm khảm. Nàng háo hức lắng nghe, rồi dần dần một nỗi buồn man mác xâm chiếm lòng nàng. Gã trơ tráo đến mức khiến nàng tưởng rằng người chồng xa cách đã quên lãng mình, còn cho đó là một thử thách. Nhưng dù gã tán hươu tán vượn thế nào đi nữa, có thể nói chẳng giây phút nào Imogène lại thôi nghĩ đến Posthumus. Gã thấy rõ mình đã thua cuộc, nên quyết định phải thắng bằng mưu kế.
Gã nài nỉ công chúa, lúc đ
êm khuya tăm tối cho gã được gửi cái rương to chứa đầy báu vật trong phòng riêng của nàng, đến sáng hôm sau là gã lên đường. Nhưng khốn nạn thay, gã tự giam mình trong rương, đến khuya lại mò ra, bất chợt những lời than thở của Imogène thốt ra trong lúc ngủ say -người đ
àn bà hiền dịu đang mơ tưởng đến chồng mình- lục lọi khắp phòng, quan sát mọi nơi, cuối cùng đoạt luôn chiếc vòng của Imogène. Đến sáng, gã cầm chắc trong tay những gì có thể khiến Posthumus tin rằng gã vừa nhanh chóng chiếm được lòng tin cậy của cô công chúa hồn nhiên vô tội.
Gã không quên đoan chắc với kẻ lưu đ
ày khốn khổ rằng anh đã bị lãng quên. Gã kể rằng công chúa đã tiếp gã trong khuê phòng và mô tả cách trang hoàng nơi đó:
“ Những tấm thảm lụa và ngân tuyến trình bày nữ hoàng Cléopatre kiêu hãnh trong giây phút hội ngộ với Marc Antoine; dòng Cydnus(1) ngạo nghễ dưới sức nặng các chiến thuyền. Ôi! Thật là một kỳ công. Lò sưởi ở giữa, phía trên có bức phù
điêu mô tả Diane đang tắm: thật là một bức chân dung sống động. Nhà
điêu khắc, giống như người sáng tạo, đã mang sinh khí và cử động đến cho tác phẩm. Trần nhà, được tô điểm bởi những chú bé con bụ bẫm bằng vàng chạm nổi. Giá sắt là hai thần Cupidon nạm bạc, mắt bịt vải đứng một chân và tựa vào các ngọn đuốc.”
Posthumus cho rằng những cái đó rất phổ biến trong cung điện Cymbeline, người ta nghe nói đã nhiều, bởi thế Iachimo có thể nghe lỏm từ cửa miệng một thổ nữ, nhưng gã Iachimo không chịu buông tha chàng, vẫn tiếp tục lải nhải. Gã trưng ra chiếc vòng mà gã bảo là Imogène vừa tặng gã, vừa thủ thỉ: “trước đây, nó rất quí báu đối với em”. Tên phản phúc còn mô tả cả vết thẹo nhỏ bên thái dương công chúa mà Posthumus đã hôn lên bao lần. Thất vọng, rồi cuối cùng bị khuất phục, Posthumus bỏ cuộc và
đ
ành mất chiếc nhẫn kim cương anh vẫn giữ gìn đến nay như một kỷ vật thiêng liêng. Nhưng nỗi giận dữ và lòng phẫn uất đã làm tê liệt mọi tình cảm khác, anh rít lên: “Vội quên mình khi mình vừa đi, chẳng chút bền lòng chặt dạ, lại vô cùng lơ đãng!” Anh chỉ còn nghĩ đến giết nàng và hộc tốc viết thư cho tên người hầu Pisaniô, mà anh đã để lại bên nàng, bảo đưa nàng rời xa lâu đ
ài, rồi cắt cổ nàng đi. Và kẻ nông nổi, tuy chẳng còn tin tưởng gì nàng Imogène hiền dịu, lại tin chắc ở nàng đến nơi để giao nàng cho tên sát nhân, anh báo cho nàng biết là mình đã về tới cảng Milford đất Anh.
Quả anh không lầm tí nào, khi nghĩ rằng nàng sẽ bí mật tìm mọi cách đến ngay với anh. Thực thế, nàng thoát khỏi lâu đ
ài và ra đi với Pisanio. Đến giữa rừng rậm, khi sinh mạng nàng đã nằm trong tay, gã người hầu không có được cái can đảm man rợ để giết nàng, nên nàng vẫn sống. Nhưng gã tiết lộ cái lệnh quái ác của Posthumus, cả hai nhất trí rằng nàng chẳng nên quay về cung điện, tránh sự bám riết của Cloten. Họ quyết định nàng phải cải trang thành một thiếu niên và nàng sẽ tìm gặp viên tướng La Mã Lucius, ông ta chắc sẽ thu nhận nàng với tư cách thị đồng biết múa hát. Bởi vì các binh đoàn La Mã vừa đổ bộ xuống đất Anh, để buộc Cymbeline nạp triều cống cho hoàng đế Auguste.
Nhưng trước khi vào phục vụ dưới quyền Lucius, Imogène đã phải đương đầu với bao nỗi truân chuyên. Sau lúc chia tay với Pisanio, nàng đi bộ ròng rã thật lâu, đến lúc kiệt sức vì mệt và
đói, mới tới trước một cái động; trông thấy thức ăn, nàng vội vồ lấy nhai ngấu nghiến. Những người cư ngụ trong động chẳng mấy chốc hiện ra. Một ông lão và hai thanh niên khôi ngô tuấn tú, sống giữa rừng nhờ vào các thứ săn được.
Ông lão đã từng biết qua các thành phố lớn, cả chiến tranh và vinh quang nữa, nhưng bị thất sủng, nên về ẩn náu nơi cảnh quạnh hiu cô tịch và nuôi dạy hai chàng trai trẻ, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Những người này lại luôn mơ ước được chiến đấu, họ cầu mong có dịp thi thố tài năng và tỏ rõ lòng dũng cảm. Cả ba đều ân cần tiếp đón chàng trai phiêu lãng và Imogène cảm thấy gắn bó một cách khó hiểu với hai người trẻ tuổi kia, họ cũng rất quí mến người bạn do định mênh run rủi đến với họ.
Rủi thay, một hôm Imogène ngã bệnh và mệt nhoài, trong lúc các chủ trọ đều đi vắng, để chữa cho mau lành, nàng dùng liều thuốc của Pisanio để lại, thuốc này do hoàng hậu, vợ của Cymbeline trao cho gã. Mụ đ
àn bà
độc ác ngỡ đó là viên thuốc độc cực mạnh dành riêng cho Imogène, nhưng lão y sĩ nhận lệnh bào chế viên thuốc ấy đã tỏ ra dè dặt, không theo lời bà, lão đưa cho hoàng hậu viên thuốc chỉ có khả năng khiến người uống ngủ vùi một giấc dài nặng nề như chết mà thôi. Than ôi! Viên thuốc quả là công hiệu, và ba người thợ săn khi quay về, bắt gặp Imogène nằm thiêm thiếp bất động, cứ tưởng nàng đã lìa trần.
Hơn nữa, họ vừa vô tình giết chết Cloten, giải thoát nàng khỏi tay một kẻ vẫn gây khổ cho nàng, đang theo dấu vết nàng vào tận rừng sâu. Họ khâm liệm cả hai thi thể, nhưng trong khi vội vàng tống khứ cho rảnh mắt cái xác chết của Cloten, họ than khóc và thương tiếc không nguôi người bạn trẻ, con chim nhỏ, cánh hoa huệ trinh trắng của họ. Họ phủ hoa đầy phần mộ ngào ngạt hương thơm, nào anh-thảo, nào cát-cánh, nào hồng hoang, nào thanh-đ
ài, vừa kể lể vừa hát điếu ca. Chính nơi đó, nằm trên lớp cỏ đẫm sương mai, Imogène đã tỉnh dậy sau giấc ngủ nặng nề. Nàng lại lên đường đi Milford và gặp cái binh đoàn La Mã đã thu nhận nàng làm thị đồng và
đem nàng theo họ.
Cùng lúc, vua Cymbeline cảm thấy những tai họa của thời đã qua giờ lại tái diễn. Bọn La Mã trở lại xâm chiếm xứ sở, con gái ông biến mất, con trai của bà vợ thứ cũng biệt tăm. Ông đang lâm vào cảnh hiểm nghèo, bất ngờ bỗng được cứu nguy. Bốn người lạ mặt: ba chiến binh và một nông dân, tự mình chống giữ một đường đ
èo hiểm trở và mang lại chiến thắng cho nước Anh. Cymbeline thoát nạn, cho dẫn tất cả tù binh đến trước mặt ngài, và cho người đi tìm các anh hùng vô danh.
Bỗng nhiên, ngài nhận ra giữa bọn tù La Mã một chàng trai trẻ, mà họ kêu nài được khoan hồng. Nhác thấy, ngài đã hài lòng đến nỗi tự hứa sẽ tha ngay theo lời thỉnh cầu đầu tiên. Chàng trai trẻ đó, -chính là Imogène – yêu cầu một người La Mã hiện diện tại đó, giải thích vì sao hắn ta chiếm được chiếc nhẫn kim cương kỳ diệu đang lấp lánh trên ngón tay hắn. Người La Mã đó chẳng ai khác hơn là Iachimo. Hắn xem như mình sắp chết đến nơi, chẳng còn e ngại gì mà phải dối trá, nên đã thú nhận mưu kế và thủ đoạn của mình.
Ngay lúc đó, Posthumus từ hàng ngũ những kẻ bị bắt xông ra định giết hắn. Pisanio vừa nhận ra Imogène cũng nhảy bổ tới. Imogène ngả vào vòng tay vua cha. Ngài khoan hồng cho tất cả mọi người, vì chính ngài mới là kẻ duy nhất gây nên tội.
Cuối cùng, ngài nhận ra ông lão cư ngụ giữa rừng là Belarius, xưa kia bị lưu đ
ày đã bắt cóc hai người con trai của Cymbeline mang theo. Giờ đây, ông giao họ lại cho đức vua, cha của họ. Ngài lấy làm mãn nguyện khi hiểu ra rằng, họ là ba người đứng ra chiến đấu bảo vệ vương quốc, hỗ trợ bởi gã nông dân, chẳng ai khác hơn là Posthumus. Mọi việc được phơi bày ra ánh sáng, họ ôm nhau, mừng mừng tủi tủi. Đức vua Cymbeline nối tình giao hảo với La Mã và tạ ơn trời đất.
Chú thích:
1) Cydnus: dòng sông ở Silicie (Tiểu Á), Alexandre le Grand có lần suýt chết vì tắm lúc dòng nước giá băng. Năm 42 Trước CN, Marc Antoine tổ chức nhiều buổi liên hoan ven bờ và trê
2904
Cymbeline
Caymbeline là vua Anh quốc, đó là một ông vua bất hạnh, vì sau khi các binh đoàn của Jules César rút đi, triều đại ngài luôn bị phá rối, bọn lính La Mã thường xuyên quấy nhiễu, hai đứa con trai ngài, đã khôn lớn và tỏ ra dũng cảm, đã bị bắt đi cùng với bà vú, trong trường hợp rất bí ẩn, hoàng hậu lại qua đời. Tuy nhiên, dù bao hoạn nạn dồn dập xảy ra, tuổi già của ngài cũng cảm thấy được an ủi. Ngài đã tục nguyền với một góa phụ, biết hết lòng lo lắng cho ngài, mẹ của một chàng trai to lớn, mà Cymbeline rất quí mến, trong khi mọi người đều ghét cay ghét đắng cái gã Cloten hợm hĩnh. Nhưng phần lớn niềm vui của vị vua già là do công chúa Imogène, đứa con duy nhất còn lại của ngài, cô gái sắc nước hương trời và là người kế nghiệp của vương quốc.
Cymbeline, nhu nhược và cả tin, hoàn toàn tin cẩn bà thứ phi, bà ta lúc nào cũng chăm chú nghiên cứu các loài dược thảo và
Để chiều ý hoàng hậu và cũng vì ngài tưởng lầm Cloten đứng đắn và dũng cảm, ngài muốn gả Imogène cho anh ta. Cô công chúa trẻ đẹp, sáng suốt và tinh tế hơn, rất khinh ghét kẻ cầu hôn ấy, vả lại tim nàng đã hướng về người khác, chàng Posthumus. Sau khi cha mẹ qua đời, chàng được nuôi dưỡng trong triều cùng với nàng. Cha chàng nổi tiếng dũng liệt đến mức thiên hạ tặng cho biệt danh là Léonatus, sư tử. Dù thuộc dòng quý tộc và thừa hưởng danh vọng của thân quyến, Posthumus rất nghèo, và vua Cymbeline đã đón chàng về nuôi dưỡng thật chu đáo. Chàng đã trở thành một hiệp sĩ toàn diện, và người ta chỉ có thể phiền trách chàng về sự nghèo túng mà thôi. Nhưng Imogène chẳng mấy quan tâm đến sự nghèo khổ của chàng, vì cô yêu chàng, và bởi e ngại cơn phẫn nộ của vua cha, và sự theo đuổi ráo riết của Cloten, cô đã bí mật thành hôn với Posthumus.
Nhưng mọi việc đều vỡ lẽ ngay, do các thủ đoạn của hoàng hậu. Cymbeline, bị bà vợ yêu xúi dục, đã ra lệnh trục xuất Posthumus ra khỏi vương quốc, và quản thúc Imogène trong lâu đ
- Điều duy nhất có thể giúp em chịu đựng nổi cuộc sống –Imogène tha thiết nói- đó là ý nghĩ trên đời này còn có một kho tàng mà
- Nữ hoàng của anh, người yêu quí nhất đời anh –Posthumus đáp, giọng thật nồng nàn- em đừng khóc nữa. Anh sẽ là người chồng chung thủy như vẫn hằng nguyện ước. Nhưng giờ đây, em yêu ơi! Phải để anh ra đi! Nếu những lời từ biệt cứ kéo dài mãi, trong suốt khoảnh khắc còn lại giữa đôi ta, thì niềm đau chia cách sẽ càng tăng lên nhiều. Thôi, xin giã từ em!
- Không hãy nán lại giây phút. -Imogène rên rỉ- Dẫu anh chỉ xa em để đi dạo mát, buổi chia ly này cũng chỉ là ngắn ngủi. Anh hãy nhìn, đây là chiếc nhẫn kim cương do mẹ em để lại, hãy đeo vào và gìn giữ nó cho đến ngày nào Imogène chết đi, rồi anh sẽ cưới vợ khác.
Posthumus nhận lấy món báu vật, rồi đeo vào cổ tay xinh xắn của Imogène chiếc vòng, tín vật tình yêu, mà nàng hứa sẽ chẳng bao giờ cởi ra. Rồi chàng ra đi, xua đuổi bởi Cymbeline, với những câu nguyền rủa thậm tệ. Thật lâu sau đó, nàng chỉ luôn tơ tưởng đến chuyến đi thê thảm. Nàng tự nhủ: “Sao ta không là con của một người chăn cừu và Posthumus chẳng là con của một chú mục đồng lân cận!”. Trong khi đó, Cymbeline, giận dữ vì thấy nàng tuy sầu muộn đến héo hon, nhưng vẫn nhất mực yêu kẻ bị lưu đ
- Những lời cuối cùng, chàng nói gì? –nàng hỏi.
- Nữ hoàng của anh! Nữ hoàng của anh! Rồi chàng vẫy khăn và
- Lẽ ra –Imogène nói- người phải đợi đến lúc chàng nhỏ như con chim mới được rời mắt khỏi chàng. Nếu là ta, ta sẽ nhìn chàng cho đến lúc khoảng cách khiến chàng nhỏ tợ con muỗi, tợ đầu cây kim, cho đến khi chàng tan biến trong không khí. Rồi ta sẽ ngoảnh mặt đi mà khóc. Và ta cũng sẽ không cáo biệt chàng, bởi ta còn nhiều điều lý thú muốn nói cho chàng nghe:“rằng ta nghĩ đến chàng vào những giờ nào đó, rằng chàng sẽ gặp ta trong những lời cầu nguyện, lúc đọc kinh buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, vì lúc đó ta đang trên trời để đợi chàng. Nhưng trước khi được trao cho chàng cái hôn từ biệt, cha ta đã bước vào hệt như cơn gió bấc, ông ta đã làm héo tàn mọi mùa hoa nở”.
Công chúa Imogène sầu muộn đã chuyện trò với gã nô bộc trung thành như thế đấy, trong khi chờ đợi tin tức người chồng yêu quí.
Trong lúc đó, Posthumus đã đến La Mã cho qua ngày tháng lưu đ
Posthumus tin chắc vợ mình chẳng thiết tha bất cứ điều gì khi vắng anh, song le, không chịu nổi, cuối cùng anh đã khinh xuất khi nhận đánh cuộc với Iachimo. Anh cuộc chiếc nhẫn kim cương của mình với mười ngàn đồng Đuy-ca, phân nửa gia sản của Iachimo, là chẳng ai có thể mang lại bằng chứng rằng vợ anh có phút nào đó quên anh -rồi đặt tay lên đốc kiếm, anh tự hứa sẽ trừng phạt đích đáng kẻ hợm hĩnh, cứ tưởng dễ dàng lung lạc trái tim chung thủy của một người đ
Iachimo xoay được nhiều thư giới thiệu để tiến triều và
“Anh ta vui vẻ quá chừng, gã nói. Hiếm có khách lạ nào ở La Mã lại vui tính và hay đ
- Lúc còn ở đây, chàng vẫn hay buồn nhiều khi thật vô cớ.
Gã mô tả Posthumus khác hẳn với hình ảnh mà nàng khắc sâu trong tâm khảm. Nàng háo hức lắng nghe, rồi dần dần một nỗi buồn man mác xâm chiếm lòng nàng. Gã trơ tráo đến mức khiến nàng tưởng rằng người chồng xa cách đã quên lãng mình, còn cho đó là một thử thách. Nhưng dù gã tán hươu tán vượn thế nào đi nữa, có thể nói chẳng giây phút nào Imogène lại thôi nghĩ đến Posthumus. Gã thấy rõ mình đã thua cuộc, nên quyết định phải thắng bằng mưu kế.
Gã nài nỉ công chúa, lúc đ
Gã không quên đoan chắc với kẻ lưu đ
“ Những tấm thảm lụa và ngân tuyến trình bày nữ hoàng Cléopatre kiêu hãnh trong giây phút hội ngộ với Marc Antoine; dòng Cydnus(1) ngạo nghễ dưới sức nặng các chiến thuyền. Ôi! Thật là một kỳ công. Lò sưởi ở giữa, phía trên có bức phù
Posthumus cho rằng những cái đó rất phổ biến trong cung điện Cymbeline, người ta nghe nói đã nhiều, bởi thế Iachimo có thể nghe lỏm từ cửa miệng một thổ nữ, nhưng gã Iachimo không chịu buông tha chàng, vẫn tiếp tục lải nhải. Gã trưng ra chiếc vòng mà gã bảo là Imogène vừa tặng gã, vừa thủ thỉ: “trước đây, nó rất quí báu đối với em”. Tên phản phúc còn mô tả cả vết thẹo nhỏ bên thái dương công chúa mà Posthumus đã hôn lên bao lần. Thất vọng, rồi cuối cùng bị khuất phục, Posthumus bỏ cuộc và
Quả anh không lầm tí nào, khi nghĩ rằng nàng sẽ bí mật tìm mọi cách đến ngay với anh. Thực thế, nàng thoát khỏi lâu đ
Nhưng trước khi vào phục vụ dưới quyền Lucius, Imogène đã phải đương đầu với bao nỗi truân chuyên. Sau lúc chia tay với Pisanio, nàng đi bộ ròng rã thật lâu, đến lúc kiệt sức vì mệt và
Ông lão đã từng biết qua các thành phố lớn, cả chiến tranh và vinh quang nữa, nhưng bị thất sủng, nên về ẩn náu nơi cảnh quạnh hiu cô tịch và nuôi dạy hai chàng trai trẻ, cách biệt hẳn với thế giới bên ngoài. Những người này lại luôn mơ ước được chiến đấu, họ cầu mong có dịp thi thố tài năng và tỏ rõ lòng dũng cảm. Cả ba đều ân cần tiếp đón chàng trai phiêu lãng và Imogène cảm thấy gắn bó một cách khó hiểu với hai người trẻ tuổi kia, họ cũng rất quí mến người bạn do định mênh run rủi đến với họ.
Rủi thay, một hôm Imogène ngã bệnh và mệt nhoài, trong lúc các chủ trọ đều đi vắng, để chữa cho mau lành, nàng dùng liều thuốc của Pisanio để lại, thuốc này do hoàng hậu, vợ của Cymbeline trao cho gã. Mụ đ
Hơn nữa, họ vừa vô tình giết chết Cloten, giải thoát nàng khỏi tay một kẻ vẫn gây khổ cho nàng, đang theo dấu vết nàng vào tận rừng sâu. Họ khâm liệm cả hai thi thể, nhưng trong khi vội vàng tống khứ cho rảnh mắt cái xác chết của Cloten, họ than khóc và thương tiếc không nguôi người bạn trẻ, con chim nhỏ, cánh hoa huệ trinh trắng của họ. Họ phủ hoa đầy phần mộ ngào ngạt hương thơm, nào anh-thảo, nào cát-cánh, nào hồng hoang, nào thanh-đ
Cùng lúc, vua Cymbeline cảm thấy những tai họa của thời đã qua giờ lại tái diễn. Bọn La Mã trở lại xâm chiếm xứ sở, con gái ông biến mất, con trai của bà vợ thứ cũng biệt tăm. Ông đang lâm vào cảnh hiểm nghèo, bất ngờ bỗng được cứu nguy. Bốn người lạ mặt: ba chiến binh và một nông dân, tự mình chống giữ một đường đ
Bỗng nhiên, ngài nhận ra giữa bọn tù La Mã một chàng trai trẻ, mà họ kêu nài được khoan hồng. Nhác thấy, ngài đã hài lòng đến nỗi tự hứa sẽ tha ngay theo lời thỉnh cầu đầu tiên. Chàng trai trẻ đó, -chính là Imogène – yêu cầu một người La Mã hiện diện tại đó, giải thích vì sao hắn ta chiếm được chiếc nhẫn kim cương kỳ diệu đang lấp lánh trên ngón tay hắn. Người La Mã đó chẳng ai khác hơn là Iachimo. Hắn xem như mình sắp chết đến nơi, chẳng còn e ngại gì mà phải dối trá, nên đã thú nhận mưu kế và thủ đoạn của mình.
Ngay lúc đó, Posthumus từ hàng ngũ những kẻ bị bắt xông ra định giết hắn. Pisanio vừa nhận ra Imogène cũng nhảy bổ tới. Imogène ngả vào vòng tay vua cha. Ngài khoan hồng cho tất cả mọi người, vì chính ngài mới là kẻ duy nhất gây nên tội.
Cuối cùng, ngài nhận ra ông lão cư ngụ giữa rừng là Belarius, xưa kia bị lưu đ
Chú thích:
1) Cydnus: dòng sông ở Silicie (Tiểu Á), Alexandre le Grand có lần suýt chết vì tắm lúc dòng nước giá băng. Năm 42 Trước CN, Marc Antoine tổ chức nhiều buổi liên hoan ven bờ và trê
2904
Labels:
TruyenNgan,
William Shakespeare