Latest Post
Showing posts with label Nguyễn Thị Long. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Thị Long. Show all posts

Quá Khứ Một Lần Nữa





Chủ nhật hôm nay trái với lệ thường, tôi thức dậy thật sớm bởi tiếng động đâu đó bên ngoài. Bước xuống khỏi giường, tới vén rèm, mở cánh cửa sổ, vùng ánh sáng ảm đạm với làn gió nhẹ tràn vào khiến tôi ngập chìm trong hơi lạnh sắc se của buổi sáng cuối thu. Màn sương mỏng là đà trên những ngọn đồi phía xa như dãy khăn sô trên vùng tóc rối. Hàng thông già lá cành xanh thẳm phía trước mặt, ngạo nghễ bên những ngọn redwood. Những hàng cây không tên khác trên cành còn lại vài chiếc lá úa cũng buông tay, thả mình nhấp nhô như những cánh bướm đang vờn trên bụi hoa dại giữa vùng cỏ chết. Tư lự khoanh tay gát lên thềm cửa sổ, thả tầm mắt dòm quanh khu chung cư cạnh bãi đất trống như cố kiếm tìm con đường xa lạ hơn trong tâm thức.

Hoạt cảnh đôi trai gái, tay trong tay đi bộ về phía nhà thờ ở góc cuối đường gợi nhắc trong tôi vô vàn niềm đau xót. Bởi tôi thực tình hoãng sợ những buổi sáng trên con đường mù sương đi ngang nhà thờ đến trường học, trong tiếng chuông ngân vang báo hiệu hết giờ lễ sớm. Cùng đi cùng về như một hội ngộ tình cờ với người đã gởi trao tất cả cảm tình. Những ngày đằm thắm, tha thiết bên nhau, cho tới khi hai đứa ra trường. Cha mẹ đôi bên nhận lời giao ước, một lễ cưới linh đình được diễn ra. Lòng tôi rộn rã, ngất ngây với tiếng pháo vu qui tưng bừng nổ như một ngày đại hội. Tưởng tình yêu như keo sơn, gắn bó vĩnh viễn cho tới ngày xuôi tay nhắm mắt. Vậy mà mối lương duyên đó đã trôi đi như ngọn thác, mặt ghềnh, chảy xuôi như giòng nước ngầm lặn hút dưới đáy biển sâu. Cuộc đời tối đen của tôi thoáng đến rất nhanh trong trí nhớ, gờn gợn trong lòng từng vẩn buồn không tên, cùng với cảm giác ớn lạnh bàng hoàng của cơn gió trở trời. Nước mắt bỗng ứa ra, tôi cắn môi cho qua cơn xúc động. Trong óc chập chờn hoạt cảnh cuộc cãi vã đưa đến xô xát hai năm về trước. Rờ đường thẹo dài nằm vắt ngang từ phía trên cằm và vòng xuống phía dưới, dấu vết khó quên và cũng khó tàn phai nổi với thời gian. Ðời người thay đổi không phải do một hay nhiều nỗi nghiệt ngã mà do định mệnh ban phát, mà chính là do chọn lựa sai lầm đối tượng của đời mình. Tôi thầm lặng nhận chịu và cúi đầu giã từ tình yêu, tình chồng vợ cánh chuồng, yểu mạng để triền miên ray rức trước đổ vỡ lớn lao trong đời. Cuộc sống trống không từ hai năm nay dày vò, vừa đủ hối hận đã làm lỡ đời mình với một thứ tình yêu vụng dại và rã tan hết những lời nồng ấm, những buổi hẹn hò, những cánh thư màu và bây giờ tất cả mất hút chỉ còn là kỷ niệm như cánh chim giữa hoàng hôn chìm khuất nơi lòng trời đen thẳm. Ðôi khi tôi muốn đi nhưng không biết nơi đâu hầu tránh cảnh đời huyên náo, lấp đầy tháng ngày còn lại, vừa đủ lãng quên đời sống cũ. Niềm rung động và hạnh phúc trước kia không còn nữa. Cơn lụt lũ tàn phá hết cánh đồng xanh tươi phơi phới trong hồn người con gái nửa vời dang dở, đã lay đổ hết lòng tin vào hạnh phúc của nỗi ước mơ ngày son trẻ. Cuộc ly hương, tâm hồn tôi dường như đã thay đổi và như con chim đủ lông cánh muốn lượn vào vòm trời cao rộng. Ðôi khi nhớ lờ mờ một chút kỷ niệm tuổi thơ trong con thuyền quá khứ trên giòng nước thời gian trôi về quê hương xa tăm tấp ấy.

Co ro trong chiếc áo mỏng chạy xuống dưới nhà, dòm quanh quất trong nhà không còn ai, ba mẹ đi làm, hai đứa em chắc đã đến thư viện chỉ còn bà nội đang ngồi trên "sô pha" coi phim chưởng. Không biết bộ phim này bà coi chưa, nhưng với tôi cũng đã hơn chục lần. Mỗi lần có cô, chú ở xa về chơi, hoặc bạn bè tới, ba mẹ tôi bắt hai đứa em chọn lựa phim, không hiểu vô tình hay cố ý mà lúc nào cũng thấy tụi nó lôi bộ phim "Thần Châu Kiếm Khách" ra cho mọi người thưởng thức. Trong phim có người con gái chỉ một đêm buồn rầu, sáng ra mái tóc đã trắng phau. Tôi thấy như loáng thoáng trong cô gái đó hình ảnh của chính mình...

Thấy mặt tôi, bà nội hỏi và nói một hơi, không cần chờ tôi trả lời, "Mấy giờ rồi Trang ? Kiếm gì ăn chút đi, nhớ sửa soạn đúng mười một giờ rưỡi đưa nội đi chùa."

Trước kia, ngoài những ngày đi làm, tôi thật rảnh rổi đôi khi ở nhà một mình tự do ngủ nướng. Nhưng hơn nửa năm nay, lãnh thêm một công việc làm, "tài xế đặc biệt" cho nội, siêng năng cần mẫn đưa nội đi chợ, đến nhà những bà bạn cũ mới viếng thăm, nhất là đi chùa trưa chủ nhật.

Mặc xong cái áo, xỏ đôi giầy vào chân, tôi chòm sát mặt vào gương, tô một chút phấn hồng, ngắm nghía khuôn mặt trái xoan với đường kẻ chì đen thanh tú quanh đường viền đôi mắt to đen láy của mình. Tôi mỉm cười đồng tiền bên má trái lún sâu tăng thêm chút mỹ miều. Nỗi hài lòng len lỏi vào tâm thức. Liên tưởng cuộc đời không mấy may mắn của mình, "hồng nhan đa truân" người người thường bia miệng câu nói đó quả thật đúng, và bắt tôi nhớ tới câu "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen" đã từng học hồi thời Trung Học. Ðang lơ mơ nghĩ ngợi, tiếng bà ngoại phía ngoài vọng vào với chút phiền trách yêu thương. Xong chưa nhỏ, con gái xứ này mỗi lần đi ra ngoài sửa soạn gần hết nửa ngày. Tôi vội vàng lên tiếng. Dạ, xong rồi. Vừa trả lời vừa bước ra khỏi cửa phòng, nhưng cũng không quên quay lại nhìn lần nữa dáng mình trong tấm gương dựng đứng sát tường.

Ðưa nội ra xe mở cửa cho bà ngồi vào chiếc ghế bên tay lái, gài seat belt cho bà, rồi đi vòng phía sau mở cửa lên ghế lái xe như một người tài xế chuyên nghiệp. Lui khỏi thềm đậu, một chút gió lạnh phả vào mặt, vội vàng quay kiếng xe lên, và liếc qua phía bà an toàn trong chiếc áo ấm dầy cộm. Thời tiết thay đổi như tánh tình khó khăn của đàn bà làm nội đau, ba chủ nhật rồi tôi thật rảnh rang, được ở nhà đọc sách. Hết đau bà lại hối thúc tôi đưa đi chùa.

Chiếc Toyota Camry êm đềm lướt chậm trên đường nhựa giữa bầu trời đục đục âm u. Mây xám giăng khắp vùng trời tưởng như sắp sửa đổ mưa. Lối đi đến chùa về trưa như lắng xuống trong không khí thanh tĩnh, thơm mùi lá ướt và cỏ khô.

Khoảng mười lăm phút sau xe đã đến trước sân chùa. De xe vào bãi đậu, hai bà cháu ung dung bước từng bước nhẹ trên cây cầu giả bắt trên một khe đào, nước róc rách chảy, tưởng như mình đang đi trên cây cầu giữa vùng thiên thai tiên cảnh. Lên thềm chùa, cởi giày bỏ dép bà nội đi thẳng lên chánh điện vừa đúng lúc sửa soạn lễ cầu kinh. Có thể vì trời lạnh, không phải là ngày sóc vọng, khách thập phương và phật tử không được nhiều. Mọi người ngồi thứ tự trên chiếc đệm lớn trải từ bục thờ dài gần khung cửa giữa chính điện, những chiếc gối mỏng trước mặt chực chờ đôi đầu gối quỳ lên. Tất cả trong tư thế chờ sư trụ trì chùa ra hành lễ.

Tiếng chuông đồn
g ngân nga vang rền từng hồi bay lan xa nối tiếp hòa lẫn với những câu "kinh chú" thỉnh chuông của chú tiểu phía góc điện thờ. Ðưa tầm nhìn lên ngai vị của phật Tổ, ngài ngự kiết già trang nghiêm giữa tòa sen, đôi mắt mở lớn với đôi vành tai dài thòng tới cổ. Ðó là một bức tượng bằng đá hay cây được sơn son thếp vàng để tượng trưng cho một vị Phật. Tôi thầm nghĩ, nếu có thật là một vị phật đang ngồi trên cao ngất, liệu ngài có ngồi yên cho bao nhiêu chúng sinh tôn kính quỳ lạy hay không? Ðể xóa tan ý nghĩ quẩn quanh tà niệm tôi nhìn qua phía vách chỗ bàn thờ có bài vị và những bức hình nhỏ của những người chết, lờ mờ một chút mạng nhện, con ruồi xanh đang vướng chân vào một góc nhỏ dây tơ, con thằn lằn cụt đuôi khó khăn trườn theo bắt con mồi cái miệng dài của con thằn lằn há ra, ngỡ như nghe rõ ràng đôi cánh mỏng xập xòe kêu cứu. Tôi mở mắt thật lớn nhìn vào bụng con thằn lằn đã lớn ra dưới làn da mỏng dánh một chấm đen dường như đang vùng vẫy bên trong.

Một lần nữa, đôi mắt tôi gần như muốn rách, ráng mở ra không phải nhìn con thằn lằn mà nhìn vị sư mới vừa bước vào giữa điện. Vị sư thật trẻ, khuôn mặt dáng dấp tôi thấy như mình đã gặp và thật quen. Qua một giây trong đầu bừng lên ánh sáng, tôi muốn kêu thật to một tiếng kinh hoàng nghẹn ngào, một sự mừng rỡ đột ngột không nguyên do, gần như muốn phóng ra khỏi tầm kiểm soát kín đáo thường xuyên của tính tình đàn bà nền nếp. Cuối cùng tôi lấy đôi bàn tay đang chấp trước ngực ướt đầm mồ hôi đưa lên ấp vào đôi má nóng bừng. Vị sư bắt đầu hành lễ. Tiếng đọc kinh của vị sư, của phật tử hòa lẫn với tiếng chuông mõ trầm vang trong chính điện liên hồi, không tan lấp nổi, không nhòe nhạt nổi sự hồi tưởng trong tâm tư. Quá khứ hiện về, Khang! ngày xưa...Quỳ trước phật đài, miệng đọc kinh mà hồn như lạc về vùng trời khác.


"Giữa trưa, trời nắng chang chang, không một chút gió. Cầm trong tay cuốn tập bài học, tôi chạy một mạch ra sau vườn chỗ cái võng, bà ngoại hay ai đó đã giăng từ lâu lắm. Tôi ngồi lên, mở tập chỗ trang chép bài học thuộc lòng "Chùa Diệu Ðế", nghêu ngao học, đọc đến câu "Sau chùa cam, quít, cau, dừa, Trước chùa cây kiểng bốn mùa nở hoa", tôi liếc nhìn qua bên kia khoảng đất rộng, kiểng chùa lớn ẩn sau hàng liễu rũ phất phơ, chen lẫn với những cây cam, cây quít, phía trước nhiều cụm mẫu đơn, vạn thọ và những loại cây có bông hoa khác mà tôi không biết tên. Rồi tôi lại ê a..."Trong chùa thờ Phật Thích Ca, Sau lưng đức Phật có bà Quan Âm....."

Giòng họ ngoại tôi thật sùng đạo. Tôi không biết vuông đất gần mười mẫu cạnh nhà có ngôi chùa được lập lên tự hồi nào. Chùa trang nghiêm, mái cong với bốn đường viền trên nóc ngói rêu xanh. Bốn con rồng nằm chụm đầu trên bốn đường viền như trấn giữ phía trên. Hàng cột bốn bên chánh điện cũng thật nhiều rồng, con lớn con nhỏ, quấn mình từ dưới chân lên tới ngọn. Bên trong thật nhiều Phật, Phật Tổ, Phật Thầy dọc dài sát vách hàng hàng lớp lớp đặt trên bệ thờ, thậm chí chỗ trai phòng cũng có Phật. Chùa lớn như vậy mà chuông chiều mỏ sớm chỉ có một vị sư già trụ trì. Thường những ngày nghỉ học, tôi vạch rào lén chui qua sân chùa, ngắt mấy cánh hoa mười giờ, đôi khi đem theo cây vợt bắt bươm bướm, hay bắt chuồn chuồn đậu chập chờn trên mấy cánh bông bụp. Có một lần thấy tôi cầm trong tay con bướm trắng, xâu đuôi mấy con chuồn chuồn kim ngoặt lên ẹo xuống, sư ông tươi cười nói: "Thả nó đi, đừng chơi như vậy nó chết, con mang tội sát sanh". Không biết nghĩ sao, tôi buông tay thả con bướm và chuồn chuồn rồi bỏ đi về. Từ hôm đó rồi thôi, tôi không qua sân chùa chơi như những lần trước. Tôi chưa hiểu nổi mang tội sát sanh là tội gì, nhưng có thể nghe lời sư ông tôi không muốn làm mấy sinh vật đó chết oan.

Ve sầu kêu râm rang trên cây phượng đỏ hoa cạnh hong chùa. Tôi đã bắt đầu nghỉ hè, và đang trông ngóng ba mẹ trở về. Không biết bận rộn chuyện gì mà hai người không thể để tôi ở nhà. Từ hai năm nay ba mẹ gởi tôi sang nhà ngoại. Bà ngoại thương yêu và cưng chiều cháu lắm, nhưng lòng vẫn cảm thấy như bơ vơ, như thiếu thốn tuổi thơ dại không thể hiểu nổi, chỉ biết trông chờ mỗi chiều cuối tuần hoặc những ngày nghỉ lễ để gặp lại cha mẹ mà thôi.

Chín mươi ngày qua mau như đường tên bay thẳng, tôi trở về nhà ngoại sửa soạn tựu trường. Ba mẹ ở lại với ngoại một ngày đêm và đã ra đi từ sáng sớm. Dư vị những ngày bên cha bên mẹ còn lãng đãng như người say còn lại chút men nồng trong hơi thở. Buồn bã, đi thơ thẩn ra sau vườn. Ðứng bên này dòm sang phía cuối ven đất chùa, bắt gặp và chăm chú dòm theo một cái đóm thật xa đang di động dưới gốc cau, dừa, rồi gần, gần mãi cho đến khi tôi nhận ra đó là một thằng con trai lạ lẫm đang lúi húi kiếm tìm gì đó. "Cái đóm" mặc chiếc quần đùi và cái áo sơ mi rộng thùng thình ngắn ngủn. Từ xa "cái đóm" cũng đã thấy tôi, nhưng khi đến gần "cái đóm" dòm thẳng vào một nơi nào ra vẻ lửng lơ, thản nhiên như không thấy ai cả. Tôi đứng đó dòm theo "cái đóm" lẫn khuất vào chùa lúc bóng nắng chiều nhạt nhòa sắp tắt.

Sáng hôm sau sư ông đưa "cái đóm" vào nhà thật sớm để cùng đi với tôi đến trường. Hai đứa chạy lót thót bên sư ông cho tới lúc chia tay tôi vào trường học nữ. Trước khi rẽ lối sư ông nói với tôi, "Trang à, tan học về con ra đứng chỗ kia chờ Khang về với con nha, Khang mới đến đây không biết đường về nhà đâu".

Từ đó, chúng tôi trở thành đôi bạn, hai đứa cùng đi cùng về hai lượt trên đường có lá me bay, có có bướm lượn và đám chim chiền chiện luyện trên cánh đồng nắng gió. Tôi biết được một chút riêng tư về số phận hẩm hiu của Khang. Cha mẹ chết không rõ nguyên do, chỉ còn có sư ông là người bác ruột độc nhất trong họ đành theo về chùa nương tựa."

Tôi giựt mình nhưng còn mơ hồ rạp mình cúi lạy theo những người xung quanh khi họ đồng loạt cúi xuống. Tiếng chuông nữa vang lên tôi ra khỏi cơn bàng hoàng, trong trí nhận biết gần chấm dứt bài kinh "Trì niệm chú Ðại Bi". Lòng thầm nghĩ, còn phải cúi lạy nhiều lần khi đọc tên các vị Phật. Bắt đầu bài kinh khác, quỳ thẳng người, hai con mắt tôi lại dán cứng phía sau lưng vị sư mới, ý tưởng cũng lại trở về vị trí cũ và lờ mờ hiện rõ khung cảnh trong óc dỡ dang khi nãy.

"Ngày tháng bình thản trôi qua, chúng tôi cũng bình thản lớn lên lần theo ngày tháng. Nỗi e ấp của người con gái dậy thì và sự e dè của người con trai cùng trang lứa đã bắt đầu thấy rõ. Một lần tôi theo ngoại qua chùa lễ phật, Sư ông vuốt tóc tôi, nói với bà ngoại "Con Trang và thằng Khang mới ngày nào tôi đưa đi học còn nhỏ nhí, chạy giỡn với nhau, mà bây giờ hai đứa trông lớn hết rồi". Chúng tôi đã lên Trung Học và lại học cùng một lớp. Thường tôi hay chạy sang chùa nhờ Khang giải giùm một bài toán khó hay chỉ cho tôi biết thêm một vài tác giả để bình giảng một đề tài thầy mới đưa ra. Một hôm, tôi mượn quyển tập của Khang chép một đoạn bài còn thiếu. Vô tình lật ngược trang bìa sau phía trong, tôi thấy hai chữ "Khang Trang" viết chung trong dấu ngoặc kép nhiều hàng như vậy đóng khung giữa một trái tim lớn bằng nét vẽ của cây viết mực đỏ. Trong tôi vô cùng rung động, vô cùng bồi hồi, không phiền trách Khang, bởi chính tôi cũng đang có những cảm tình nồng đượm thiết tha dấu kín.

Chiều ngày sau tôi sang chùa trả lại tập cho Khang, cố gắng bình tỉnh cùng lúc đó Khang ngó thẳng vào mặt tôi như dò xét và bàn tay thoáng nét rung động khi cầm quyển vở. Khang rủ tôi ra vườn. Hai đứa bước chầm chậm bên nhau giữa những nắng gió lao xao reo vui dưới những bước chân ngập ngừng trên sỏi đá. Bỗng dưng Khang nắm tay tôi và kéo người tôi sát vào với Khang, cùng lúc đó thêm nụ hôn trên bờ tóc rối. Hơi nóng từ bàn tay và da thịt của hai phái dính sát qua làn vải áo, hơi thở của Khang phả vào cổ, vào vai, xương sống tôi nổi lên một luồng buốt lạnh. Nỗi bí ẩn trong tận cùng vực thẳm của thâm tâm mà chính tôi muốn che dấu, từ lúc đó bị khám phá bởi tôi không có một chút phản đối nào. Tôi choáng váng trong cảm giác nhẹ nhàng, nửa chới với của kẻ mất thăng bằng không còn tự chủ, nửa sắp sửa lao mình vào không gian giữa chiều nắng còn vươn trên đọt cây, ngọn cỏ mà tưởng như cơn bão dữ sắp sửa hoành hành. Tôi mê man cùng Khang tay trong tay không cần biết nắng quanh mình sắp tắt.

Yên tĩnh của vườn cây, nghe trong tiếng gió thoang thoảng mơ hồ nhịp đập của đôi tim náo nức. Ði dựa bên Khang mà hồn tôi chập chờn như muốn lìa khỏi xác, trí não quay cuồng những hình ảnh cũ mới. Hai con mắt và cử chỉ Khang ngu ngơ ngày mới đến. Những tháng năm dài cùng đi học, cùng chơi đùa, cùng chia xẻ những nỗi muộn phiền, cùng những buổi tối dưới ngọn đèn dầu leo lét hai đứa thân thiết ngồi bên nhau làm bài vở. Tất cả những kỷ niệm đó là nền móng của một thứ thành lủy cứng chắc quyện thành một thứ nhựa thiên nhiên kết chặt giữa Khang và tôi như mười ngón tay ràng buộc.

Tiếng chuông chùa vọng lên từ trong lắng tĩnh hoàng hôn. Cành cây phất phơ quét nhẹ nhàng trên mái cao, âm vang mơ hồ như từng bước chân ấm áp của hai người đi vào bóng tối.

Tôi ngước mắt nhìn trời những vì sao nhấp nháy xa xa và ngôi sao Hôm đang hãnh diện tỏa ánh sáng chênh chếch trên ngọn cây sứ cạnh tượng Quan Âm giữa sân chùa, nhắc nhở tôi nhớ tới bài học và những công thức toán phiền phức cho ngày mai chưa làm xong. Hai đôi chân vòng tới hiên chùa, tôi hỏi:

- Mấy giờ rồi Khang.

Khang nhìn đồng hồ tay:

- Hơn tám giờ.

- Gần tới ngày thi, về nhà học bài nha Khang.

Tôi trở về nhà, Khang quay vào hậu liêu chùa. Chỉ một lần đó rồi thôi, hai đứa phải vùi mài sách vở cho kỳ thi Tú tài.

Hết chương trình Trung học, tôi phải lên Ðại Học. Mối tình đằm thắm thiết tha của chúng tôi chưa thể thành tựu được. Những ngày xa Khang tôi vô cùng buồn bã, một đôi tháng tôi trở về thăm Ngoại, nhưng thật sự là để gặp Khang. Cho đến một ngày tôi trở về lần nữa được biết Sư bác đưa Khang lên học ở một trường Ðại Học của một ngôi chùa lớn. Từ đó tôi không còn gặp Khang, đôi khi muốn tìm nhưng tình huống bắt buộc tôi dừng lại".

Bài kinh "Hồi Hướng" lôi tôi trở lại thực tại lần nữa. Tôi bắt đầu đọc và chăm chú hết sức mình theo bài kinh, không muốn suy nghĩ vẫn vơ, cố gắng xua đuổi những tạp niệm ra khỏi đầu óc. Tự dặn lòng, hãy để yên cho người tu hành, đừng khơi lại những gì đã qua, quên đi hết quá khứ. Nhìn thẳng lên đôi mắt phật Tổ, khấn nguyện xin ngài hộ độ cho những vọng niệm trong tôi tan biến, cho lòng bình an thiền định và quên hết những điều xảy ra ở đây hay bên kia bến bờ Ðại Dương, trong quá khứ trong sạch của tuổi mới biết yêu, hay trong cái tự hào của một con người chưa làm điều vẩn đục dù trong tâm hồn hay xác thể.

Ðưa bà nội ra xe, tôi ung dung lái, thanh thản như khi đưa tay ký lên tờ giấy trả tự do cho người chồng muốn đi hoang. Gió mát lạnh nhưng tôi không quay cửa kiếng lên, chỉ mỉm cười thưởng thức cảm giác nhẹ nhàng đã lóe lên trong lòng.

1850

Lời Nguyền Trên Ðá





Lời Nguyền Trên Ðá
Truyện ngắn của Nguyễn Thị Long An

Hân cho sách vở với những dụng cụ dạy học,
hình ảnh, poster vào các thùng giấy. Mớ quần
áo treo trong tủ được xếp ngay ngắn đặt vào
vali, tất cả mọi thứ phải làm xong để trả
lại phòng trọ cho chủ nhà vào ngày mai. Dòm
quanh căn phòng lần sau cùng để chắc chắn mình
không để quên lại một vật gì trong chiếc
phòng vỏn vẹn mấy tháng quen thuộc, chỉ nửa
niên học mà thôi. Khung giường nhỏ chơ vơ,
chiếc gối xô lệch hững hờ như thầm thì chúng
ta còn thấy nhau không đầy mười hai tiếng
đồng hồ nữa. Vệt nắng buổi chiều soi
nghiêng qua song cửa sổ cho thấy rõ khoảng đất
rộng ngoài kia cỏ mọc lan đến tận hông nhà
không có bước chân người lui tới. Mọi vật
chung quanh đều mỏi mệt như phần tháng ngày lưu
lại nơi nầy. Lắc đầu thật mạnh Hân xua
đuổi đi những uất nghẹn khi nhớ tới những
ngày làm việc vừa qua.

Sáng hôm đó bà Hiệu Trưởng người Mỹ dẫn
nàng xuống dãy nhà cuối cùng chỗ dành riêng cho
số học sinh Việt Nam mỗi ngày đến học thêm
những môn còn yếu kém, (bà Hiệu Trưởng nói
như vậy) để gặp một bà giáo già Việt Nam.
Ðược biết thêm bà nầy là người dạy ở đây
lâu năm, hiện đã hưu trí nhưng đang được lưu
dụng làm việc bán thời gian với chức vụ như
là người điều khiển chương trình học thêm cho
các em nhỏ Việt Nam đang theo học tại trường.
Bà Hiệu Trưởng giới thiệu xong hai người rồi
mới bỏ đi. Hân gật đầu chào bà giáo. Nàng
vô cùng ngạc nhiên thấy bà ta dòm mình trân
trối, dòm cho đến đổi há hóc miệng như đang
gặp một quái vật lạ lùng thời tiền sử. Bà
ta đứng sững người như bị ma quỷ hớp hồn.
Hân được dịp quan sát bà một cách tường tận
trong thời gian ngắn ngủi nhưng lạ lùng đó.
Người thấp bé, da đen đen, miệng hô nên môi
trên của bà nhọn ra, lúc thừ mặt thoáng dòm có
nét hiểm ác. Phải đứng chơ vơ ngỡ ngàng giữa
căn phòng Hân hết sức khó chịu. Một lúc lâu
như mới định tỉnh, bà lạnh nhạt mời nàng ngồi,
trình bày về học trò và lớp học Việt Nam ở
đây một cách sơ sài, cuối cùng bà đưa Hân qua
căn phòng khác để gặp một thầy giáo và nói
cô liên lạc với thầy đây, quyền quyết định
sắp xếp việc làm là do thầy ấy. Lại bị ông
thầy không lớn hơn mình bao nhiêu dòm chăm bẳm
một lần nữa. Trông cách cư xử đó, Hân
đoán biết bà ta muốn nhường quyền quyết định
cho thầy giáo ấy. Rồi bà kêu Hân trở về
căn phòng làm việc của bà, không nói gì với
nàng, cũng không mời ngồi. cử chỉ bà tỏ ra
rõ ràng không mấy thiện cảm ngay từ phút đầu
với người cộng sự mới. Bỗng nhiên bà ta
đứng dậy sang phòng của thầy giáo lúc nãy.
Hân ngồi đại xuống cái ghế trước bàn của bà
ta, căn phòng giờ đây vắng vẻ. Nàng dòm tứ
phía, lạ lẫm, linh cảm cuộc đời mình từ đây
sẽ là miền biển sóng, chao động và thay đổi
lớn, không còn ổn lặng như thời gian yên bình
bên mẹ trước đây. Dường như bà ta sang bên
đó để bàn bạc về mình. Sự ngỡ ngàng, áy
náy kéo dài tới khi bà ta trở lại phân công cho
dạy mấy lớp nhỏ. Hân như thấy mình thoát nợ
khi chào họ ra về. bước ra khỏi phòng nàng
thấy một người con gái lớn hơn mình vài tuổi
đi lướt qua. Sững sốt, cô ta có gương mặt
giống mình như in. Hân dòm cô ta cho đến khi cô
khuất vào trong khung cửa một phòng học. Lạ! Sao
trên đời có chuyện người giống người như
vậy, giống như là hai chị em. Mà thôi, thắc
mắc làm gì, người giống người có gì là lạ
lắm đâu. Việt Nam có mấy chục người thì
phải có người giống nhau chớ! Vào lại văn
phòng Hiệu Trưởng ghi ngày nhận việc Hân khám
phá ra cô gái mình gặp ở hành lang là con của
bà giáo già ấy. Có lẽ sự giống nhau của hai
người là lý do khiến bà dòm trừng trừng mình
với vẻ sững sốt.

Những ngày tháng dạy học là một nỗi cực hình
triền miên. Cuộc sống hàng ngày không thay
đổi, chỉ trong tâm hồn có một thay đổi lớn,
buồn bã và hay suy nghĩ, muốn bỏ việc trở về
nhà bởi cảm thấy bơ vơ thiếu vắng những thân
tình, ngay cả tình người đồng hương bình
thường cũng không có ở đây. Không hiểu vì
sao những bạn đồng nghiệp lạnh nhạt, coi như
không phải cùng họ hằng ngày có với nhau những
nỗi vui buồn dưới mái trường của người khác
xứ. Bất cứ việc làm nào cũng không thể
sớt chia, mọi người hoàn toàn cách biệt như họ
ở trong và tôi ở ngoài đời hay ngược lại.
Sau ba tháng làm việc bà đã bắt đầu thay đổi,
làm khó dễ hay có những câu nói bóng gió xéo
xiêng. Bà là người lớn nhưng hành xử những
trò nhỏ nhen. Xúi biểu các cô giáo khác chọc
tức, bỉ mặt, cố tình làm nhục, thậm chí coi
như họ có chung cùng với bà ta một mối thù
hận nào đó. Không khí ngột ngạt ở một lớp
học, thê thảm trùm xuống theo tháng ngày đầy ứ
lên dần. Sự dè dặt, cẩn trọng, dịu dàng
từng lời nói ngày lại ngày của Hân không dìm
được mối a dua của bầy cẩu trệ, tăng dần
để nhận chìm xuống đời của một kẻ lạ.
Hân cúi đầu nhận chịu, dặn lòng giữ yên lặng
cho niềm hòa khí chan rưới xoa dịu nỗi hằn học
của mọi người.

Cố tâm không suy nghỉ lan man, bỏ qua những nỗi
muộn phiền trong công việc hầu tìm cho mình một
thanh thản đơn sơ trong niềm vui của sự dạy
dỗ. Từng buổi chiều tan học Hân ngồi nán lại
soạn bài hay dạy kèm thêm cho một em còn yếu kém.
Ðọc thêm một bài văn phạm hay một quyển sách
toán để mong tìm được phương cách cắt nghĩa
dễ hiểu khi cần thiết.... Một hôm khi học trò
vừa ra về, Hân đang sắp xếp lại những dụng cụ
để dạy còn ngổn ngang đầy phòng học thì một
ông già bước vào lớp. Thoạt nhìn thấy ông,
Hân vô cùng bối rối, dường như đã gặp ông ta
ở đâu, quen quá. Soát lại trí nhớ vẫn không
tìm thấy căn cớ nào gợi nhớ. Ông ta đứng
ngay ngưỡng cửa dòm giỏ quan sát như vừa thấy
điều gì mà từ xưa chưa bao giờ có, mặt hiện
lên vẻ bỡ ngỡ. Hân chờ đợi khá lâu mới
nghe ông ta cất tiếng chào.

Ông ngập ngừng :

- Xin lỗi cho tôi hỏi thăm, cha mẹ cô ở đâu?
Tên gì?

Cô giáo trẻ dòm thẳng vào mắt người đối
diện, thầm nói ông nầy vô duyên, không quen
biết mình bao giờ lại đột ngột hỏi dồn dập
chuyện riêng tư. Nghĩ vậy nhưng Hân cũng ôn
tồn trả lời vì kính trọng người lớn tuổi:

- Thưa, cháu không có cha, chỉ có mẹ. Mẹ tên
Ngọc Trang hiện đang ở một tiểu bang gần
đây.

Tự nhiên mặt ông tái xanh%
2C quày quã bước ra
khỏi cửa đi mất dạng, bỏ lại sự bàng hoàng,
ngơ ngác cho nàng. Hoạt cảnh biến thiên mau chóng
và dị kỳ cho đến nỗi Hân tưởng như lạc vào
trong một ngõ ngách của vùng kkhông gian huyền bí,
liêu trai.

Từ đó về sau cử chỉ và cách đối của bà ta
hoàn toàn là sự ngược đãi. Công việc dù
nhỏ dù lớn bà ta đều sai phái và cắt cử
nàng, không giao cho các cô giáo khác. Thương học
trò và trung thành với hoài bảo của mình, Hân cố
gắng vượt qua mọi khó khăn để đạt mục đích.
Có khi một ý tưởng chống đối, tạo loạn nổi
lên trong tâm như một tiếng chuông đánh lên trong
đêm vắng. Rồi tiếp theo là thực tế cuộc
sống và tình trạng đáng thương của lũ học trò.
Ta nên buông trôi tất cả, đừng nghĩ ngợi tính
toan, hãy như những chiếc lá rụng bên đường.
Từ trên cao xuống, từ khoảng không về với
khoảng không. Khinh đời và khinh tất cả những
ai xung quanh.

Khi còn bên kia trời cũng đã thấy những nỗi
chèn ép trù dập. Lửa hồng đốt cháy quê
hương, lan tràn cho đến nỗi bao người phải
trốn chạy tận xứ nầy vậy mà bây giờ mường
tượng như ngọn lửa hồng đó tràn sang trà trộn
nơi đây để đốt cháy cuộc sống thanh bình
của một cô gái không có chút gì che đỡ. Cô,
thầy giáo ở đây hằng ngày sang sảng giảng dạy
phải biết cư xử tử tế với mọi người, phải
biết thương người cùng chủng tộc. Lá lành
đùm lá rách, hay những câu ca dao mà những buổi
chiều nào đám học sinh cũng ê a trong lớp ''Bầu
ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng
chung một dàn''. Vậy mà họ âm mưu với nhau
triệt hạ đồng nghiệp chân ướt chân ráo
đến, như là thành phố của riêng họ, không một
người xa lạ nào được tới chia sẻ công ăn
việc làm của họ. Cũng là kẻ lạc loài như nhau
trên đất nước tha nhân, đến trước may mắn
được ăn trên ngồi chốc sao họ lại nhẫn tâm
chà đạp kẻ đến sau?

Hân thở dài ngao ngán cho lòng dạ con người.
Hôm qua bà Hiệu Trưỏng kêu lên nói nầy nọ để
xé khế ước. Chắc chắn là do sự dèm pha thêm
bớt. Hất chén cơm người ta đang ăn trên miệng
vì mối tư thù vu vơ nào đó. Tức giận muốn
gây gổ lại cho hã nhưng nghĩ tới những lời
của mẹ thường dạy ở nhà. Mẹ nói, sinh làm
người dù chìm trong cảnh khốn khổ nào, cũng
cố ngăn mình đừng nhúng tay vào điều thất
đức. Cái quí của con người là nhận ra cái
xấu của mình để chân thật sửa chữa đồng
thời nhận ra cái tốt của người khác để
thương yêu kính trọng. Muốn đương đầu hầu
làm sáng tỏ nguyên do sự cất chức để mong
được nhận làm trở lại nhưng ích gì chuyện
đó? Liệu khi làm lại mình có chịu nỗi hành
động sói lang bẫy rập xung quanh không? Ðành
nhận chịu sự ra đi. Ngày mai rời bỏ nơi
nầy, nơi mà nửa năm quyến luyến với học trò
và nửa thế kỷ sống trong buồn chán.

Hân uể oải đến chiếc bàn nhỏ nhấc điện
thoại, nhấn số gọi về cho mẹ.

- Mẹ hả, mai con về nhà!

- Về chơi hả con?

- Không con về luôn, bị cho nghỉ việc rồi.

- Sao vậy?

- Con không biết nữa. Bà xếp Việt Nam của con
thót mét sao đó, bà Hiệu Trưởng mới gọi cho
biết ngày hôm qua.

- Bả tên gì ? Sao mà ác quá vậy?

- Bả tên Chơn mẹ à. Thôi nha, gặp mẹ ngày
mai.

Chưa để ống điện thoại xuống, Hân còn nghe
được tiếng lầm bầm của mẹ như là 'gặp oan
gia, lời nguyền quá linh....'. Tiếng lầm bầm xen
lẫn trong tiếng thở dài áo não bên kia đầu
dây

Chiếc xe đò nhỏ rời bến, phăng phăng chạy ra
khỏi thành phố, đồng hồ trên tay chỉ đúng năm
giờ rưỡi sáng. Hàng cây bên đường tối đen
ủ mình dưới ánh sáng vàng vọt của dãy đèn
đường. Khỏi ngoại ô, hướng trời đàng Ðông,
dọc chân mây ánh lên lằn sáng một chút mây
hồng và viền mây lần lần đổi màu từ da cam
đến màu đỏ. Bầu trời đã sáng hẵn. Rặng
núi phía xa in rõ trên nền trời lam tím. Cảnh
vật quê hương nơi nào cũng gợi nhớ trong tôi
rõ nét và quen thuộc. Hai bên là những ruộng
lúa, bông lúa nặng trĩu, hột đang ngậm sữa.
Mấy căn nhà ven lề lộ lùi dần, đầu xe lướt
tới như một con vật khổng lồ há miệng nuốt
trộng con trăn dài trước mặt. Con đường thiên
lý xa tít mù khơi mà đôi mắt tôi dòm trừng vào
không gian còn đầy ấp hơi sương chừng như đã
mỏi. Tiếng máy xe vẫn nổ dòn như bản nhạc ru
con. Dựa đầu vào băng ghế, giấc ngũ đến
với tôi thật mau, triền miên cho đến khi tai tôi
nghe từ đâu đó phát lên một tiếng ''ầm'' dữ
dội và rồi tôi không còn biết gì đã xảy ra.

Mở mắt thấy mình đang nằm trên lề cỏ trong
sự huyên náo khắp vùng. Liếc dòm bốn chung
quanh nhiều kẻ đứng ngồi, trên mặt còn nét
hoảng hốt với những vệt thuốc đỏ trên trán
trên môi. Tôi ngồi rột dậy không cần suy
nghĩ, trí óc như đã đông đặc, bưng bít hay rơi
rớt trên đường. Ðưa tay rờ nắn khắp
người, cảm thấy ê ẩm. Từ khoảng vai xuống
tới cánh tay áo trắng lỗ chỗ những vết máu.
Không phải máu của tôi mà của những người bị
thương nặng đặt nằm cạnh bên đang được đưa
lần lên xe cứu thương.

Không biết bao lâu sau, hai chiếc xe đò mới được kéo vào
lề đường, hai đầu xe bể nát, dáng xe uốn éo, cong queo. Số
hành khách thoát nạn lần lượt đón xe khác đi mất. Tôi cũng
định rời khỏi nơi nầy tìm chiếc xe xuôi về thị xã xin quá
giang nhưng dòm lại vali quần áo và cái sắc nặng nề lòng
chùng xuống lưỡng lự.

Một cặp vợ chồng đang quanh quẩn tìm chỗ
ngồi tạm và cuối cùng đến ngồi cạnh chỗ
tôi. Họ không quá trẻ cũng chưa già lắm.
Người đàn ông nét mặt nghiêm trang nhưng hiền
hậu có vẻ trẻ trung hơn người vợ. Bà vợ
dáng điệu bệ vệ, mặt có nét hiểm ác. Bà
bỗng nhiên quay sang hỏi tôi :

- Cô đi một mình sao?

- Dạ em đi một mình.

Người đàn ông đứng lên hướng mắt về con
đường từ thị trấn như chờ đợi ai. Bà vụt
nói :

- Dường như tôi đã gặp cô ở đâu, trông quen
quá.

Tôi nói lấy lòng bà:

-Hình như em cũng đã gặp bà ở đâu rồi.

Thực ra tôi chưa hề trông thấy bà ta bao giờ.
Nhưng giữa bà ta với tôi như sẵn có một mối
liên hệ nào trong định mệnh.

Mặt trời đã gần hạ xuống khỏi ngọn cây trùng
điệp phía xa. Người đàn bà cố nài nỉ tôi
nhận phần bánh mì bà mang theo, nói rằng ăn cho
lấy lại sức sau biến cố vừa rồi.

- Cô đi nghỉ hè?

- Dạ không, em đi nhận việc làm.

- Ở đâu?

- Dạ Ty Tiểu Học Vũng Tàu.

- Như vậy cô sẽ ở đâu khi đến nơi?

Bà vợ nhìn về phía người chồng :

- Nhà tôi rộng rãi, nhiều phòng trống, nếu cô
chưa có chỗ ở, ở tạm nhà tôi ít ngày đã.
Cô bằng lòng chứ ?

Tôi gật đầu và nói :

- Cám ơn bà nhiều. Nếu không có bà không biết
em phải ở đâu đêm nay.

- Em có vẻ mệt mỏi nhiều rồi.

Tiếng em của bà ta rất ngọt ngào khiến tôi cảm
động. Tôi nói vì lúc xe đụng cửa xe bung ra,
hất tôi văng xuống đám cỏ bên đường bất
tỉnh một lúc, không bị thương nặng là may mắn
lắm rồi.

Trong lúc chờ xe tới đón, ông chồng cứ luôn
phàn nàn chiếc xe hư chưa sửa được phải nhờ
xe bạn phiền quá. Tôi mệt mỏi thực sự đành
phó mặt cho sự sắp xếp của bà ta miễn là có
chỗ nghỉ ngơi qua đêm nay rồi sẽ tính sau. Lúc
ra đi tôi đã hẹn với cô bạn gặp nhau tại Ty
Tiểu Học nhưng chiếc xe quái ác đã làm sai bét
hết những điều dự tính. Hẹn gặp từ sáng
tinh sương giờ tối mịt, nó đâu thể đợi chờ
tôi đến giờ nầy. Cơn buồn bã từ đâu kéo
tới tôi không nói một lời nào cho đến khi về
đến nhà của họ. Ngôi nhà không mấy xa với
thành phố, nhưng cách biệt hẳn với con đường
tới chợ. Những lối đi vào nhà, quanh quẩn
cạnh những hàng rào là vườn nhãn và những cây
mãn cầu dai rậm lá. Trước nhà là mảnh sân
trải sỏi dài tới hành lang mênh mông loáng thoáng
sương chiều. Bà vợ dẫn tôi vào phòng khách
với những cửa sổ lớn giăng màn voan mỏng
trắng tinh tương phản với tường vôi màu xanh
lợt mát mắt.

Bà vợ hỏi:

- Em thích phòng dưới hay trên lầu?

- Dạ phòng nào cũng được, miễn thuận tiện cho
bà.

Ở nhà, trong khung cảnh gia đình, người đàn bà
trở nên dịu dàng và tôi có cảm tưởng từ phút
nầy có một người bạn bên cạnh mình. Ðó là
nhận xét khách quan, và chính sự đó làm tôi
bâng khuâng suy nghĩ. Tôi trở về phòng riêng
mình, cố gắng xua đuổi hết không khí bỡ ngỡ
của người dưng kẻ lạ trong ngôi nhà rộng thênh
thang và lạnh lẽo nầy. Dầu thế nào đi nữa
tôi vẫn là người chịu ơn của bà ta. Tôi nằm
dật dựa trên chiếc giường rộng cho đến khi
chị người làm mời tôi đến phòng ăn. Hai vợ
chồng ngồi đó không biết từ bao giờ. Tôi
ngồi xuống ghế theo lời giục giã của bà :

- Thôi ăn đi, ăn đi em, tiếng bà ân cần mời
mọc.

Sau bữa ăn, hai vợ chồng mời tôi qua phòng
khách uống trà. Tôi tự rót cho mình ly trà
bốc khói, rồi ngồi vào lòng chiếc ghế nệm
sâu. Họ đã vào phòng. Tôi ngồi đó một mình
yên lặng, mường tượng thấy vòm trời như
đầy sao lóng lánh những tia chớp màu vàng.

Buổi sáng tôi thức dậy thật sớm, nhưng trong
nhà không còn ai. Bà vợ đến trường mẫu
giáo và người chồng thì còn ngủ trong phòng.
Tôi nói với chị người làm đừng chờ cơm
trưa. Chị người làm nói bà chiều mới về.
Tôi có một chút áy náy suốt trong lúc thay áo cho
đến khi ra đường. Gọi xe đến Ty nhận việc,
rất may mắn được nhận dạy ngay tại trường
tỉnh. Ngày đầu tiên tôi liên lạc được với
người bạn gái độc nhứt ở đây, dù không
mấy thân nhưng còn có chút phao để bấu víu.
Buổi chiều về nhà tôi vào phòng bà để cám
ơn và nói với bà tôi ra ở chung với cô bạn
như đã thưa qua với bà trước đây.

Bà dòm sâu vào mắt tôi :

- Tôi không để em đi đâu, ít ra em phải giúp
tôi một tay giữ ngôi trường mẫu giáo của tôi
chứ.

Sự khẩn khoản của bà ta tôi đành ở lại.
Ngày ngày đến trường học buổi sáng, chiều về
lo sổ sách thâu xuất tiền nong cho bà ta. Coi
như tạm yên thân trong lúc chân ướt chân ráo
đến nơi nầy. Bây giờ tôi mới biết hình như
người chồng là một ông tai to mặt lớn mới
được thuyên chuyển về làm việc tại quê nhà do
sự chạy chọt của bà. Những ngày ở đây tôi
ít khi nói chuyện nhiều với bà ta, chỉ mỗi
buổi tối trình sổ sách cho bà kiểm soát và
tường trình những việc về trường sở trong
ngày. Tôi đã làm việc cật lực do bản tánh
siêng năng không để bà phải bận tâm đến
nhiều vì vậy bà giao phó cho tôi mọi việc và
thường xuyên vắng nhà, nói là đi về thành phố
thăm hai đứa con gái đang nhờ bà ngoại nuôi dùm.

Ðời người là một bàn cờ sắp sẵn, thế cờ
được dấu vào bên trong đầu óc của người bày
trận mà tôi là một con cờ thủ thành. Tôi bâng
khuâng nghĩ đến thân phận mình đang ở ngưỡng
cửa cuộc đời. Người ta muốn biến cuộc
đời tôi thành xí nghiệp, đánh đổi những
thời gian quí báu của tôi bằng sự bù đãp một
nơi ăn ở mà khỏi phải trả thêm một khoảng
tiền nào khác. Nghĩ đến đây tôi cảm thấy bơ
vơ và tủi thân. Tới một ngày nào tôi sẽ ở
luôn đây và sẽ chết khô cằn như cuống lá.
Tôi nhớ đến ba tôi, ông thường ngồi vẽ dưới
ánh nắng vàng hoe trong sân nhà. Từ ngày má tôi
qua đời, ông đã không còn vẽ nữa và những
ống màu cũng đã cạn khô. Không biết bây giờ
ba tôi làm gì và có nhớ tới tôi đang buồn thiu
nơi xa lạ nầy không ?

Chiều nay, từ trường về nhà như bao buổi
chiều trước, tôi cảm thấy buồn bã lạ lùng,
để nguyên cả giầy và áo quần nằm sấp
xuống mặt nệm cho đến khi chị người làm mời
ra ăn cơm. Thức ăn đã dọn sẵn trên bàn từ
lâu. Nhưng chỉ có một chén đũa. Tôi hỏi,
chị người làm nói bà đã đi vắng và ông thì
cũng chưa về. Quen như lệ thường, tôi ngồi
vào bàn ăn vội vã một mình và ra phòng khách
uống trà. Trở về phòng, cơn buồn ngủ từ
đâu ập tới như phong ba bão táp kéo về một
hướng. Dường như tôi đã bị thuốc mê và
thuốc đang ngấm lần vào cơ thể. Trong cơn say
ngủ tôi mơ hồ thấy khuôn mặt của một người
đàn ông cúi gần xuống khuôn mặt tôi bây giờ
đã vô tri gỗ đá không thể nào vùng lên, thể
phách rã rời buông xuôi cho cơn mê chất ngất.
Không biết bao lâu sau, trong đêm tối tôi bị bà
ta dựng dậy với những tát tay tới tấp, hung
bạo. Tôi bàng hoàng chưa ra khỏi cơn mê thì
những trận đòn khác bằng cán chổi lông gà
giáng xuống người như sét đánh. Bây giờ tôi
hiểu ra bởi trên người tôi không còn một mảnh
vải che thân. Răng trên cắn môi dưới, tôi ghìm
tiếng khóc nói với bà ta:

-Việc này tôi hoàn toàn vô tội.

Bên ngoài cơn mưa dữ dội đã biến thành bão
lớn. Những cành cây chuyển mình răng rắc trên
mái nhà, gió xoắn từng cơn quật xuống khu
vườn nhà tan tác. Trong tiếng nước chảy ào ào
lẫn với tiếng gió thét gào tôi nghe văng vẳng
tiếng chửi the thé và tiếng nguyền rủa của bà
ta trong khi con dao phay trên tay bà chặt chan chát
vô tảng đá kê dưới một cái chưn cột nhà:

-Tao nguyền trên đá là đời mầy sẽ ế chồng tới già. Khổ
sở suốt đời. Tao nguyền là nếu mầy có con thì con mầy sẽ
bị tao trù dập và nó cũng không ngóc đầu lên nổi...
Tôi không sợ lời nguyền. Tôi còn quá trẻ để tin vào những
lời vu vơ đó. Nhưng tôi xót xa cho nỗi đau đớn của bà, nỗi
đau đớn bị phản bội. Tiếng khóc của bà thê lương quá
khiến tôi quên đi cơn đau thể xác và sự thất vọng đến
cùng cựa của mình. Tôi ngồi đó mắt ráo quảnh.

Sáng hôm sau, bà ta bắt buộc tôi phải xin thôi
việc, đi khỏi thị xã. Bà nói không muốn thấy
mặt tôi ở thị xã nầy, nếu không tôi sẽ
không yên ổn được với bà. Tôi ra đi mang theo
một oan tình chưa giải tỏa. Bà Chơn ơi! Không
biết bao giờ tôi được minh bạch nỗi oan khiên

1849