Bất chính
Đáng lẽ tôi không nên dính vào những chuyện mà người đời thường gọi là bất chính. Tôi nói "đáng lẽ" bởi vì tôi thường dính vào. Và thường dính vào bởi tôi không biết phân biệt thế nào là bất chính. Tôi vẫn được cái mà nhà Phật gọi là vô minh, tiếng dân gian nôm na là dốt.
Cái dốt đó, tôi đổ thừa tại mắt kém. (Ai chẳng biết người sành sõi nhìn đời với con mắt tinh tường ? Mắt không tinh, sao tường được ?) Việt Nam mình mà mới bảy tuổi đầu đã phải mang kính là chuyện cổ kim hiếm cực kỳ. Chuyện bắt đầu từ một chiều đi học về, tôi ra vườn chơi với con bò đang gặm cỏ, vừa lúc nó phất cái đuôi. Bò mà, muốn phất đuôi lúc nào thì phất. Có phải người ta phất cờ khởi nghĩa đâu mà phải lựa thời cơ. Hậu quả là sáng hôm sau, cả nhà kinh hoảng tưởng đêm qua tôi hoá thân làm con gái qủy : hai hồ thu trở thành hai hồ máu. Hai hồ máu tròng trành chắc chắn hãi lắm !
Thôi thì hết thỉnh bác sĩ này tới thầy thuốc kia. Ai cũng cho vài ba món rồi chuồn. Bố mẹ phải cầu tới tiên tới thánh. Tiên thánh nhập vào cái ông ngồi giữa chiếu trước bàn thờ, đầu trùm khăn đỏ ủ chiếc khăn đóng bên trong. Chiếc áo dài the đen phần dưới nổi bật với chiếc khăn đỏ phủ xuống ngang lưng lắc lư nghiêng ngả, đũa cầm tay gõ gõ viết viết lên chiếc mâm đồng, ồn ào nhộn nhịp tạo cơ man hy vọng ! Bằng giọng lơ lớ âm dương, ông phán tôi lạy tất cả mọi người chễm chệ trên bàn thờ. Nào ông Tổ ông Tằng ông Cao ông Cố... Ai cũng với nụ cười nửa miệng, khinh khỉnh, thách thức sao sao. Và cái nhìn các cụ trông khiếp lắm : mình bước sang phải sang trái gì các cụ cũng trừng trừng rõi theo, ý muốn thấu suốt coi lòng mình có thực sự thành kính hay không ! Xong tôi uống chén nước lạnh mà ông tiên ông thánh đã huơ huơ đũa thần vào đấy. Rồi tiên thánh cũng chịu thua, vất đũa, thăng. Thường thì trước khi thăng, tiên thánh hay cười khanh khách, ta đây lắm, hất ông trùm khăn đỏ ngã lăn quay, chỏng trơ bất động hồi lâu. Nhưng lần này tiên thánh chỉ cười khúc khích (bởi vì không cười thì bớt vẻ "tiên" đi), không quên hất nhào cái xác phàm mình đã nhập vào, đủ hiểu tiên thánh cũng "tri túc", biết chắc lần này mình không thể biến hai hồ máu kia thành hai hồ thu trở lại. Ông Cao ông Cố vẫn tủm tỉm, nhưng có phần tẽn tò, ngại con cháu coi thường thực sự (rồi chúng nó sẽ chẳng thèm hoá vàng hoá bạc cho thì có mà... khất thực !). Bố mẹ héo hon. Tôi thì không nói ra chớ chẳng tơ hào buồn, tự nhiên được miễn ngày hai buổi tới trường, lại được chăm chút đặc biệt.
Anh con cậu, biết bố ghét dị đoan. Nhưng tới nước này thì cũng đành thủ thỉ thôi thì rước thử ông thầy pháp thầy gì gì đó. Cùng đường rồi, bố gật. Vừa bước vô sân, ông thầy phán "có gì đâu, anh em nó gặp nhau mừng nhau đó mà", rồi đặt bàn cúng ngoài sân và bảo phải làm cây cung với bốn mũi tên. Chị tôi lấy len cho bố làm dây cung.. Ông rầm rì dụ dỗ anh tôi gì đó (thầy pháp dụ ma như trai dụ gái) , xong bảo tôi bắn bốn mũi tên đi bốn hướng. Chẳng là anh Ba tôi chết non, chưa đầy tuổi. Chết non yểu thiêng lắm. Và vì đứng hạng nhì sau qủy nên có kiểu mừng của thế giới bên kia, thế giới bên này hơi bất mãn. Và dây cung mà bằng len thì bắn xa vạn dặm, hiệu nghiệm như một viên đạn du kích bắn chết một hơi bảy tên GI : sáng hôm sau thức dậy, mắt tôi xanh như mắt đầm. Cả nhà mừng hơn bắt được của (dĩ nhiên còn tùy của gì). Tôi thì cũng chẳng nói ra nhưng tiếc, biết là sắp tới ngày ôm cặp, và cũng chẳng còn lý do để cứ đôi mắt máu liếc tới đâu là y như toại nguyện cái ấy nữa. Sáu tháng sau, tôi bắt đầu mang kính. Người ta thường gọi quê tôi là nơi khỉ ho cò gáy, chớ nếu tỉnh thành thì chắc chắn tên tôi được thượng vào danh sách chuyện lạ bốn phương !
Để góp phần vào cái thị lực mong manh ấy, tôi rất ít nói, mà hễ mở miệng thì văn hoa bí hiểm. Người cho tôi tàng tàng (bố lờ đi, không nghe). Người (chắc là tàng tàng) thì cho tôi có máu thi sĩ (bố tủm tỉm, bảo con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Và không nghi ngờ gì lòng thủy chung của mẹ, bố nhứt định là tôi mang máu bố, chính thống). Ví dụ vào năm lên mười, đang ăn cơm, bất chợt tôi nhăn nhó với mẹ :
- Có người quyên sinh !
Cả nhà ngưng đũa, trợn mắt nhìn. Tôi gật gù tiếp :
- Trên sông. (Các đôi mắt vẫn không chớp) Bên đám rong rêu.
Bố thở dài. Con gái đã mang tật mắt lại còn dở hơi thì dù có đại tiện trên đống vàng cha mẹ cũng chẳng vui nào. Nhưng bố quên là tôi con nhà tông, mang máu bố, chính thống. Mẹ buông đũa ôm vai tôi :
- Ăn đi con. Chuyện thiên hạ ở đâu mà nói làm gì.
Tôi lắc đầu suýt văng cả kính :
- Nhưng nó muốn chui vào bụng con !
Có một đứa con như vậy thì phải biết lòng kiên trì của mẹ. Những sợi tóc mai chân trắng nghiêng xuống bên tôi :
- Ai mà chướng vậy, nói mẹ nghe.
Tôi chỉ vào chén canh, có cái gì lênh đênh. Bố sửa mục kỉnh, liếc, nhướng mày nhìn mẹ :
- Con ruồi, mẹ nó à !
Bối rối, mẹ vội lấy chén cơm tôi săm soi rồi kêu lên :
- Ruồi muỗi gì đâu, nấm hương đó con. Còn một cái bỏ thì tiếc, mẹ xắt bỏ vô canh. (Chép miệng) Con nhỏ mắt mũi đã vậy mà ông thì cũng chẳng hơn gì ! Thôi ăn đi con, có ai quyên sinh đâu !
Tôi thích ngồi trầm ngâm hằng giờ chẳng cục cựa, tịnh khẩu, mắt nhìn xuống. Mà hễ nhìn ai thì cứ chăm bẳm không chớp khiến thiên hạ rờn rợn với ý nghĩ dù tội từ tổ tông, dưới mắt tôi cũng sẽ phơi phới chưng ra. Người ta ơn ớn, muốn tìm mà chẳng hiểu nổi trong cái đầu tóc bum-bê kia chứa đựng phù phép gì. Và họ cho tôi giống bà già. Thì mới nứt mắt đã mang mục kỉnh, đã "nói chữ" ra gì thì có muốn trẻ e cũng khó. Ở trường tôi không có bạn gái. Tôi không thích bọn con gái chớ không phải mới nứt mắt đã ham trai. Vô lớp đầu giờ hay sau giờ chơi, ông cai luôn luôn dành cho tôi cái vinh dự đánh trống. Tôi cho đó là cách cảnh tỉnh chúng sinh, nhắc nhở tới lúc phải trở về với thực tại, với trách nhiệm, đừng lao mãi vào vũng lầy nhân loại (tôi ưa dùng chữ này lắm !). Giải thích vậy mà bọn con gái vẫn không hiểu tại sao tôi thích đánh trống ! Và tôi hỏi tại sao bọn con gái thích chơi trò cút kiếm. Bởi lần nào tôi kiếm cũng chẳng ra ai, mà trốn thì cứ bị bọn nó bắt gặp liền, lại bị úp mặt vào tường đếm tới trăm xong dáo dác đi kiếm, lại cũng chẳng ra ai, lại úp mặt vào tường đếm trăm... có gì thú vị ?
Trở lại, năm đầu tiên tôi lên trung học, chị tôi xin mẹ cho bạn là chị Điểm ở trọ, vì nhà chị Điểm mãi trong quê. Nhà lại quen chú Đạm, chẳng biết bạn ai. Bố thì lớn hơn chú nhiều, anh Hai thì đàn em quá trẻ, và chị em tôi thì gọi bằng chú. Chú Đạm tốt lắm, thường tới nhà chơi và ch1070
Già
Bỏ chân xuống giường, bà cụ đứng lên mò sờ cửa sổ phòng mình. Ở chân giường là cái tủ đứng ngăn với lối đi, và từ tủ cột một sợi kẽm, treo tấm màn dọc theo chiều dài giường - đó là "phòng" của cụ.
Từ cửa sổ, cụ bước dọc theo tường tới cửa xuống bếp. Qua khỏi cửa bếp, cụ phải sờ thấy tay vịn cầu thang, và cách đấy vài bước cụ sờ vào góc tường phòng tắm. Rồi cụ quay gót, sờ đụng tay vịn cầu thang, bước tới cửa bếp, về "phòng", sờ vào cửa sổ, leo lên giường, sì sụp lạy bốn phương ... ngày hai bận.
"Phòng" cụ thì vỏn vẹn cái bàn nhỏ để quà bánh và cái giường đôi. Vì giường thì đôi mà cụ chỉ một mình nên phần nửa giường cụ để cái quạt máy chưa bao giờ dùng (và chắc sẽ không bao giờ dùng), hai cái thau nhựa to tướng hãy còn tốt (vốn liếng còn sót sau bao nhiêu năm cụ làm thương mại) đựng lỉnh kỉnh vài chai lọ, và một hộp thiếc to đựng thuốc lá.
Giang sơn của cụ ít ỏi bao nhiêu thì lộ trình sinh hoạt của cụ cũng ngắn ngủi bấy nhiêu, xa nhất chỉ là lên gác thắp nhang bàn thờ, cũng sì sụp lạy bốn phương, cũng ngày hai bận. Không ai biết được bao nhiêu cái cụ phải lạy trong ngày và cũng không biết cụ lạy cái gì. Thì giờ còn lại cụ ngồi trên chiếc ghế nhỏ sát giường, tay phe phẩy quạt. Cụ quạt không ngừng tay bởi trời Sài gòn hừng hực nóng, cụ ngồi trong căn "phòng" bưng bít mà lại mặc áo len. Có người hỏi tại sao, cụ cười :
- Áo mình là kiểu xưa, hắn giặt rồi đưa cho mình áo khác. Chớ áo mình làm chi có nối ở vai phồng phồng như con gái rứa. Nên chi mình bận áo len che bớt đi, chớ không thì như bận áo nính.
Những ngày trời mưa, trong bếp nước từ dưới nền xi măng ứa lên, ứa lên tràn ngập, có khi cao cả vài chục phân. Cụ cũng cứ giữ thói quen đi lại, cứ chân trần lội nước mà đi. O Hậu vừa tát nước tràn vào ngập nhà trước, vừa nói mợ ơi làm ơn ngồi một chỗ đi, chớ lỡ trợt chơn té thì làm răng. Nhưng cụ làm như không nghe thấy.
Mỗi lần muốn ăn, từ cái tủ đứng ở chân giường, cụ lần mò ra tới bàn, ngồi ở ghế nhất định, không nói gì, cho tới khi O Hậu đặt trước mặt cụ một đĩa gì đó, thường là bánh xèo, bánh cuốn, bánh khọt, chả giò ... ít khi nào cụ chịu ăn cơm.
- Bữa ni không có bánh xèo mợ à, mợ muốn ăn cái chi ?
- Ta muốn ăn bánh xèo.
- Nhưng bữa ni không có, hắn đau không đi bán.
- Răng không bán, không bán hắn sống bằng cái chi. Tại mi không muốn cho ta ăn.
Rồi cụ bắt đầu liệt kê tất cả tội lỗi của O Hậu mà cụ có thể tưởng tượng. Rằng mi giặt quần áo mới của ta mi đổi, mi đi chơi đêm về leo lên cửa sổ mà vào nên chi bực gạch bị bể, mi tò te chi với thầy Nhỏ, tại ta thương chồng con nên mới lụy vào mi chớ ta với mi có họ hàng chi, con cái bới cho ta thì mi hưởng hết, ai tới nhà ni cũng chỉ biết mi chớ không biết tới ta, chừ ta mù rồi thì mi muốn làm trời làm đất trong cái nhà ni ... Có khi O Hậu tức cười trước những lời vu vơ chẳng đâu vào đâu ấy, nhưng nhiều lúc cụ nói đanh thép bạc bẽo thì O Hậu buồn, thường kể lại lời trách móc của chị O, rằng răng mà mi chịu được, rằng việc chi mi đang thong thả một mình lại phải cưu mang, khi cậu mất bà có thèm để tang cho cậu mô mà mi phải tình nghĩa...
Chuyện xưa, không biết cụ ông bỏ bà hay cụ bà bỏ ông, chỉ biết là cụ ông đi biệt xứ. Cụ bà cưu mang con cái nhưng nuôi với lòng thù hận chồng, giữa mẹ và các con không có lòng trìu mến nhau. Lớn lên con cái lập gia đình hay chưa thì cũng mỗi đứa một nơi. Cụ sống một mình, làm lụng có bao nhiêu thì ngày ngày quà bánh nhang đèn lên chùa. Có con dâu duy nhất từ Trung vào lo lắng săn sóc cụ, mà dạo đó cụ còn sáng nên càng khó, con dâu khóc với chị chồng nhưng vẫn cứ chiều. Vài năm rồi gia đình con trai đi Mỹ theo diện HO, năn nỉ O Hậu về ở với mẹ. Khi vợ chồng tới chào, cụ không nói không rằng, không cả một lời chúc lành.
Có người từ xa tới ở thăm O Hậu ít ngày, chứng kiến sinh hoạt trong nhà và nghe O Hậu kể, hỏi :
- Các chị con cụ có thường tới lui không O ?
- Không cô ơi, chị Thuần thì cả năm ni không tới một lần.
- Còn mấy cháu ngoại ở gần đây thì sao ?
- Bà cháu có bao giờ tình nghĩa chi mô mà hắn tới. Một năm may ra tới một lần. (Cười mỉa) Hồi mợ tui còn làm ăn được, có bao nhiêu cũng ngày ngày đem cúng mấy ông sư ông sãi, mà cô coi chừ mợ tui không đi cúng kiến được nữa thì có ai ở chùa tới hỏi thăm một tiếng mô.
- Cụ cúng sư sãi nên Phật gởi O tới ở với cụ đây nè. À mà O à, sao cụ chỉ có một người con trai mà cũng bỏ cụ đi Mỹ ?
- Dạo nớ mợ tui còn sáng cô à, còn lành lặn nên gay lắm. Ở với ai cũng không hạp được. Với lại anh chị tui có bốn đứa con, hai đứa lớn ra trường mấy năm tìm không ra việc, vì họ chỉ mướn ai có học ở ngoại quốc về tê. Tụi hắn đi dạy Anh văn. Mà cô biết dạy ai không ? Tụi hắn dạy mấy ông giám đốc không mướn tụi hắn chớ ai ! Anh chị tui đi hai năm thì mắt mợ tui mới hư.
- Vì cụ khóc nhớ con cháu à ?
O Hậu bật cười dòn tan :
- Mợ tui có biết thương nhớ ai mô. Mắt hư thì hư.
- Cụ mù thiệt hay còn thấy ?
- Còn thấy mờ mờ.
- Ờ, hèn chi em tới cửa vừa lúc cụ đi vòng thứ ba, cụ hất em ra, rất mạnh.
- Ờ, mợ tui còn mạnh lắm cô à.
- Vậy sao không lo chạy chữa mắt cho cụ ? Chỉ là vảy cá, người già thường bị, lột ra là mắt sáng lại thôi.
O Hậu nói như nói một mình :
- Chị Thuần nói thôi duyên của mợ mà nợ của em, chớ chị đang lo là phải đem mợ về với chị thì không biết làm răng mà sống, em lại nhận lời ở với mợ. (Thở dài) Cũng là cái duyên của tui nữa cô à, ở nhờ nhà thằng em thì vợ con hắn cũng chẳng vui vẻ chi, mặc dù mình cũng tự túc làm ăn chớ có ăn của ai mô. Tui chừ cũng gần đất xa trời, cái là còn mạnh khoẻ hơn mợ.
Rồi O buồn buồn :
- Mới đầu, các chị còn lại bên ni cũng bàn tán nhau về chuyện nớ, chuyện mổ mắt cho mợ tui. Nhưng cuối cùng là đành bỏ qua, bởi vì mợ tui như rứa thì tui mới ở với mợ được. Chớ mợ tui mà sáng thì có ai ở gần cho nổi, rồi đêm hôm lỡ có chuyện chi thì làm răng. Già cả mệt lắm cô ơi !
LỤA
Một trăm mười sáu bậc thang dẫn xuống hầm rượu. Hơi lạnh chích áo mùa hè gây gây. Tối. Thỉnh thoảng bóng đèn nhỏ chiếu ánh sáng vàng xỉn không soi đủ ngõ ngách, hồi hộp kinh dị. Lại sắp thêm một đời rưng rức thịt da. Phải qua nhiều đời. Còn bao nhiêu đời nữa?
Người đàn ông dìu qua nhiều khúc quanh, không rắc rối nhưng khó nhớ. Giải thích mỗi hầm mang tên kỷ niệm một xứ bà cố anh chinh phục thị trường. Bà cố đã cho nối lại mười tám cây số đường hầm ngang dọc chéo chồng thời La Mã. Ròng rã mười năm. Như gả con cưới cháu. Như hàn gắn bất hoà tộc họ. Chúng gặp nhau như những con người bất ngờ chạm trán trên đường. Xa lạ nhưng cùng dòng. Cách chia nhưng tiếp nối. Hầm nào cũng từng núi sâm banh chờ ngày đưa đi tiêu thụ. Chai nhỏ bảy lăm xăng ti lít đến chai lớn chín lít. Chất chồng đủ kiểu: nằm lên nhau cao vài thước, hoặc chúc đầu trên kệ… Trong những ngõ ngách này, có thể giết người dấu xác.
Tôi vẫn đều chân những bước mộng du. Chưa giọt rượu nào đã thấy ngây ngây. Anh kể chuyện về giòng dõi mình vẻ dửng dưng kiêu hãnh. Một bà cố đã thành huyền thoại nhờ tài tiên phong chế tạo sâm banh, trí thông minh và lòng can đảm . Cơ ngơi mỗi ngày cứ tăng dần theo tuổi cố, huy hoàng bề thế. Và mình, đứng đâu được trong nhà anh, trong tim anh mà hoài vọng? Tôi chợt rùng mình.
- Vous lạnh hả?
- Vâng. Hơi lạnh.
Giờ đã quen cách xưng hô. Vous. Chẳng thân mật, dân quý tộc không suồng sã buông tuồng. Sung sướng cảm giác mình cũng đưọc tôn vinh trân trọng. Người đàn ông cởi áo vét khoác vai tôi, siết thêm vòng tay.
- Sắp đến rồi, vous sẽ không lạnh nữa.
Anh dắt tôi băng băng dọc ngang thế giới. Từ New York đến Barcelone. Từ Rome đến Québec. Từ Franfort đến Moscou. Hầm Glasgow có tấm nệm cố ý xé rách. Đang mùa triễn lãm. Bà cố say mê nghệ thuật, muốn không gian dòng họ này như quyển sách mở, mở ra thế giới, mở với thời gian. Tấm nệm rách kỷ niệm Glasgow nghèo khó cuối thế kỷ mười chín, thị trường tiêu thụ rượu thứ mười lăm của cố. Tưởng sẽ ngả người lên ấy. Nhưng anh kéo tôi đi nhanh hơn về phía bắc Manchester. Nghệ sĩ nào đó dựng tám mươi con ma áo trắng. Bước vào nghĩa địa không mồ mả. Tôi khựng lại. Anh cười:
- Ma giả mà. Ta vào trong này.
Tôi len lỏi giữa tám chục con ma. Đứa cười đứa mếu. Đứa trợn ngược tròng chăm chăm hù doạ. Ðứa vừa ăn thịt sống miệng còn bê bết máu. Ðứa tránh né cho qua. Ðứa dang tay cản đường. Ðứa ỡm ờ liếc mắt đưa tình. Và có đứa suồng sã vuốt ngực sờ mông khi tôi lách người bên cạnh. Nhủ thầm đang dan díu cõi vô hình, nó sẽ chứng kiến điều mình sắp làm. Tôi dừng lại cuối hầm, tám mươi con ma che phía trước. Đẩy tôi vào tường, có cái hốc nhỏ chênh vênh như cuộc đời, anh cao lớn che chở tôi khỏi bầy ma. Liếc nhìn bìa tóc dợn sóng cao trên mình cái đầu, màu nâu sáng óng ánh. Áo vét anh trên vai tôi rơi xuống. Hầm nhờ nhờ ánh sáng từ rừng thông triển lãm bên cạnh leo lét đổ về, khúc khuỷu. Tôi rướn người. Tám mươi con ma trắng tinh đẩy đưa bóng tối. Thỉnh thoảng gió luồn từ đâu rung rinh tám mươi chiếc áo, âm khí lởn vởn chung quanh. Nhướng mắt tưởng tượng bà cố nhập vào đám ma im lặng dõi mình từng cử chỉ. Láo liên tìm bà cố. Môi anh khép mi tôi lại hơi thở dồn dập áp sát má môi. Người đàn ông tao nhã quý phái biến dạng thành núi sùng sục lửa, thích trò đấu vật. Hai cánh tay quyền uy mạnh mẽ nhịp nhàng theo điệu nhạc riêng hơi thở. Tôi nghèn nghẹn, nửa hoang thú nửa gái lẳng lơ. Thịt da sưng sững. Đắm đuối, tôi nhoài người tựa vào hốc nhỏ, lao chao bềnh bồng cưỡi cuồng phong. Tám mươi con ma hùa theo từng cử động, nhấp nhô, nhấp nhô, lên xuống, chao đảo tròng trành quay cuồng chóng mặt.
Anh hôn xuống cổ, tôi liếc đám ma. Con bên trái đôi mi ướt át cái nhìn người đàn ông thời tôi con gái - cái nhìn dạy con thú nhỏ hoang mang tập tễnh chuyện đời. Lớp học đã ra về, mình tôi loay hoay đáy quần ướt đỏ. Giấy học trò xé, vò mềm, lau lót. Chợt đụng phải cái gì trong vùng lau lách đàn bà, tôi giật nẩy lạ lẫm, kinh hãi, thích thú. Tay bỡ ngỡ mê mê man man, ngập ngừng hối hả rứt từng sợi từng sợi tấm lụa hồn con gái… Từ đây không chỉ bấm phím dương cầm. Khi mở mắt tôi suýt rú: anh gác dan đứng trước mặt tự bao giờ, nháy mắt cười cười. Và sỗ sàng không ngờ, anh ghì hôn hối hả, sờ soạng khắp nơi. Liếc tay anh vấy đỏ. Tôi đắm đuối lịm người. Xấu hổ bỗng loãng tan theo máu. Tuần lễ sau tôi nấn ná trong lớp trống vắng. Cửa phòng học mở ra, khoá lại. Mỗi chiều xác tôi trên ghế, da thịt lừng lựng chỉ mong hết giờ, đầu óc lang bang nhớ cây phượng sân trường loang lổ hắt bóng lên mặt anh cai trường thật sát mặt mình, thân anh đổ ập lên người tôi sẵn sàng hứng đỡ. Thầy giảng bài sốt ruột, chỉ mong nghe âm thanh hừng hực trên bụng, rin rít chân ghế chao đảo dưới lưng. Mẹ bảo con gái vú to xấu hổ lắm, con phải khom lưng xuống. Tôi đi lom khom, ghì cặp sách trước ngực ép dấu phần da thịt rất người. Trên hai băng ghế học trò kê sát, tôi rướn người bay bổng, ngực thênh thang phơi phới ưỡn cao. Làm được điều cấm đoán, tôi tự do sảng khoái, đâm hào sảng mời anh dằn vặt thân mình suốt mỗi cuối chiều. Nghiện giờ tan học. Anh cai trường thành anh cai nghiện cơn đồng bóng thú hoang quẫy đạp trong tôi. Trên ghế nhà trường, đôi tay gỗ rừng lau vội giọt máu nhỏ đoá hoa trinh nữ - khắc ấn một đời... Con ma miệng bết máu ăn món thịt ngựa xay đỏ tươm, dặn tôi bỏ nhiều tiêu và mù tạt. Tôi lắc đầu chịu thua, bên nhà bố thường ăn tiết canh cũng toàn máu … Con ma trước mặt biết tôi vụng dại, siết tay dịu dàng : cha mẹ cho vous du học chắc chắn muốn vous học cái gì, không phải làm nghề này. Ráng học đi, cần gì liên lạc với tôi. Đặt tờ giấy bạc và bưu thiếp trên bàn quày quả xoay lưng, mắt người đàn ông trong suốt áy náy. Tấm bưu thiếp còn giữ đâu đó trong ngăn kéo, bao nhiêu lần cần chẳng hề dám gặp. Bao nhiêu bóng ma đã trượt vào đời. Lãng đãng. Chẳng quên chẳng nhớ. Ma bố đứng kia, nghiêm khắc lạnh lùng. Và xa xa lẻ loi ma mẹ buồn tăm tối...
Từng đứa, từng đứa từ từ quay nhìn tôi, uyển chuyển dợn sóng lao xao. Từng cánh tay dang ra, dang ra mãi, vô tận, kết lại thành cánh tay dài ngút tận trời. Cánh tay ma tập thể quay vòng vòng trên đầu người trần thế trêu chọc, doạ dẫm, kích động. Môi anh xuống ngực. Quay cuồng. Xuống. Rốn thuộc phần trên. Anh trở về cắn môi tôi đau điếng. Cánh tay dài ngoằng trắng nhỡn từ từ nhỏ lại, nhọn hoắc, ánh biếc màu thép, bổ thẳng xuống đầu anh. Tôi rú lên. Sức lực tám mươi mốt đàn ông đàn bà đâm xoáy người tôi. Đau thốn. Cố ơi. Cuốc xẻng cố sai thợ cày xới một trăm hai mươi mỏ phấn trong mười tám cây số địa đạo đang nghịch ngợm dày xéo thân con. Nó xuyên suốt ra sau, đục vào hốc vách, đục
thủng cả tường. Đất gạch loảng xoảng rơi, bụi phấn mịt mùng… Suýt té. Đôi mắt lẳng lơ trữ tình nhắm riết. Kho bà cố tràn ngập giấy bạc, đơn đặt hàng, sung túc, hạnh phúc, phơi phới, huyênh hoang, lìm lịm… Đôi mắt lẳng lơ mở ra không nổi. Thèm được nằm. Căn phòng độc thân anh sực mùi trưởng giả. Chiếu chăn sẽ ươm hoan lạc kéo dài.
Người tôi nhão trên tay anh. Hụt hơi. Ngay cả lúc tám mươi mốt người rút cuốc xẻng về sau tiếng tru rùng rợn hoà lẫn cõi âm dương. Tiếng tru chạy vòng suốt mười tám cây số đường hầm có một trăm hai mươi mỏ phấn. Vang vang. Vang vang. Trong tận cùng từng ngõ ngách. Rồi nó trở về, mệt mỏi đứt hơi, hắt ra rin rít, chia nhỏ trả lại tám mươi mốt đôi mắt đợi chờ. Từng giỏ, từng giỏ nho đủ màu xanh vàng đỏ tím ào ạt đổ vào vựa. Thợ hái nam nữ leo lên xắn váy xắn quần ra sức đạp, đạp, cười, cười. Chất lỏng màu máu hối hả tuôn xuống bồn chứa (hệt nước ấm áp hai đùi sau chén thuốc năm mười sáu tuổi). Mát lạnh. Ngọt ngào. Nồng nàn…
Tôi mở mắt. Đám ma đã quay lưng tự lúc nào, văng vẳng cười khúc khích. Thầy tướng số gọng kính gãy một bên, đôi mắt hiêng hiếng trên màu da nghệ chiếu tôi suốt chân đến đầu rồi ngược lại, lắc mãi không chịu nói. Mẹ năn nỉ nhiều lần, thầy cứ nói đi, biết trước có gì xấu thì còn liệu giữ gìn. Thầy cười, muốn thì tui nói, nhưng không giữ được đâu. Con bé này nghiệp nặng lắm. Mắt ướt át trữ tình lại hay liếc là người lẳng lơ, tình cảm dồi dào, sẽ truân chuyên lắm. Năm Thân, vô phúc tản mạng, hữu phúc thêm người. Phải qua nhiều đời mới mong yên ấm. Không chừng... Ông bỏ lửng. Vặn mãi không trả lời. Hỏi đời là gì. Nói đời là đàn ông. Giản dị quá, đời là đàn ông. Mắt mẹ tối tăm hơn đêm ba mươi quanh ngọn lửa nấu bánh chưng ngày tết…
Đời thứ mấy rồi không đếm được nữa. Nhưng có tình yêu thì mới lần đầu. Con đường đến miền yên ấm ngắn đi một chút.
- Có ai tắm sâm banh như vous chưa?
Tôi giật mình vì ướt lạnh. Liếc chai trên tay anh.
- Rượu này sang năm sẽ nằm trên kệ hàng.
Sẽ nằm trên kệ hàng tức đã nằm hầm hơn ba năm, đã được tháo nút kim loại, gạt bỏ cặn đóng. Chưa, chắc chắn chẳng ai được tắm sâm banh như tôi, ngay cả bà cố đã công khó tìm tòi chế biến đưa tên tuổi dòng họ lên hàng đầu thế giới. Ướt đẫm từng sợi tóc, từng lỗ chân lông. Mùi sâm banh thơm phức. Tôi liếm rượu đọng trên môi. Say. Tình và rượu.
Nước trong vắt vàng nhạt sủi bóng trên da. Trộn với nhựa người. Tiếng cười đàn ông mạnh mẽ vang dội len lách giữa các đường hầm. Tôi nhoài nhuyễn cũng cố bịt mồm anh.
- Lỡ có ai nghe?
- Không ai cả, trừ những người xoay chai các hầm bên kia, cách đây cả cây số.
- Ngày nghỉ mỗi tuần?
- Không, mỗi năm, kỷ niệm ngày bà cố ra đời loại sâm banh brut, hai mươi hai năm sau bà cố mất cũng ngày này. Mọi người đều trong nhà nguyện.
- Sao vous không đi?
Không trả lời, đôi mắt đẹp nheo nheo chế riễu. Tôi rướn người đứng lên, khua chân tìm giày trong tối:
- Vous có biết phong tục chúng tôi, cháu đích tôn phải thế nào không?
Anh chỉ nhún vai, cuối xuống nhặt áo vét khoác lên vai tôi, bảo mình lên, dưới này luôn luôn mười độ, coi chừng vous bị cảm. Chưa muốn lên, chẳng muốn lên. Mỗi lần trong tay anh tôi ước ao tan loãng, nát ngướu, dính vào anh mãi mãi. Tôi chồm hôn trán, bọc khuôn mặt thân yêu vào lòng tay run run. Muốn khóc. Cảm giác lần đầu sau bao lần vật vã đàn ông. Nhưng tôi im lặng.
Cả hai vuốt lại áo quần. Tôi rùng mình thấm lạnh. Trong ngoài ướt đẫm.
X
Con được tin mẹ mất một sáng mùa đông, có tuyết. Bức điện tín màu xanh bầm giấy xấu mang chiếc dao găm lao trong băng giá cắm phập ngực con. Căn phòng sụp xuống, vật dụng tan tác khắp nơi. Tối ám vây quanh. Con rũ trên giường, không một giọt nước thoát ra khỏi mắt. Mẹ đi không có con bên cạnh, con không nhìn mẹ lần cuối, không nghe mẹ tiếng nào. Buổi sáng dẫn con về quê ngoại, đến nhà bà lang xa lắc xó xỉnh nhà quê, mẹ nhỏ to với bà trong khi con tẩn mẩn ngắm mấy củ khoai mì nằm bên cánh liếp, nghĩ cuộc sống thôn quê buồn bã cách gì. Đêm trằn trọc trên chõng tre xa lạ, mẹ thì thầm sáng mai phải cố uống chén thuốc thần, chén thuốc sẽ cứu con khỏi khổ và gia đình khỏi nhục. Năm đó là năm Thân, con tròn mười sáu, đã biết hơi đàn ông vì mắt lẳng lơ hay liếc.
Mẹ bưng chén thuốc nài nỉ, dỗ dành, hăm doạ. Con uống từng ngụm, mẹ gật gật nửa áy náy nửa hài lòng. Con nhăn nhó cố uống. Suýt ói nhiều lần. Những chiếc lá khô queo, những cành cây rộc rạc bẻ ra từng nhúm, từng nhúm nấu mãi, keo lại thành chén thuốc nhiệm mầu cứu gia đình ta. Đắng. Chát. Nồng. Bà lang âm thầm ít nói, to nhỏ dặn dò mẹ điều gì rồi cặp nón ra đi. Còn lại hai mẹ con trong căn chòi chênh vênh giữa đồng, chẳng biết nói gì, chỉ nhìn nhau vừa thương vừa ngại.
Buổi trưa theo dõi cơn đau bụng, mẹ dặn nếu thấy kinh nguyệt phải đưa mẹ xem, đừng vất máu. Và mẹ thở ra như cất xong gánh nặng ngàn đời, thấy trên chiếc xi líp nhỏ xíu trắng tinh có cái gì lợn cợn bất thường. Bầm. Bầm hơn mọi lần, mỗi tháng. Bầm hơn bữa thôi làm con gái. Chiếc xi líp nhỏ như con đôi tám, trắng phau như cuộc đời và vật gì gồ ghề giữa máu đã làm màu trắng thành nhơ nhuốc. Mẹ săm soi vết nhơ cẩn trọng, mắt từng cơn chợt tối sáng bất ngờ, con thấy tim nhói buốt. Giọng bà lang thật trầm, chắc nịch:
- Ngoài góc vườn kia bà. Chỗ đó yên tịnh.
Mẹ chặt cành lá chuối, tay vẫn cầm xi líp, ra vườn. Dùng tay xới lớp đất xốp mềm nhiều cát, đào khoang nhỏ sâu sâu. Mẹ xẻ nửa tàu lá chuối đặt xuống lỗ, xé thêm một mảnh để lên trên, mảnh nhỏ khác khều khều chút lợn cợn trên xi líp xuống. Dù có vẻ an lòng, tay mẹ cũng run run dưới nắng. Kính cẩn thì thầm, chắp tay cúi đầu. Mẹ đắp tàu chuối lại, lấp đất vun vun, chẳng khác ngày bé con chơi chôn con cá nhỏ, tưởng tượng là đám ma người. Chợt hiểu con đã đẩy mẹ vào tội lỗi. Vậy là con chưa chết, nhà cũng chẳng thêm người. Thương mẹ quá, con khóc, xanh xao ẻo lả như lau trước gió. Nắng chiều xuyên qua tóc mẹ anh ánh màu nâu. Soãi chân qua mấy vồng khoai khô đất nứt, lá quắt queo dính cuống vàng úa mỏng manh lòng con với mẹ. Mẹ ôm con nhìn từng chặp sợ con té chết bất ngờ. Và bây giờ mẹ chết, con không được nhìn mẹ lao chao ngã xuống. Trên đường làng ra về lần đó, mấy đứa nhỏ chạy theo rủa xả « đồ đĩ, đồ đĩ ». Vẫn biết trẻ nhỏ nhà quê thường gọi người phố về bằng tiếng ấy, nhưng không ngờ đó là lời tiên tri định mệnh.
Con tung cửa lao ra dưới tuyết, tìm kiếm hình ảnh mẹ ôm giải lụa bay bay trên trời như đã tình cờ nhìn thấy trước đó mấy hôm. Chẳng thấy mẹ đâu, chỉ có tuyết lất phất từng cụm bông nhỏ trắng phau nhức mắt. Tuyết bám tóc, phủ vai con, tan chảy ướt át khắp người. Con vẫn đứng ngoài trời tìm mẹ. Nước len lén chui vào áo như nước mắt dội ngược vào lòng. Ngày tiễn con mẹ khóc như đám tang ông ngoại. Mẹ đứt ruột phải để con đi, con siết cứng mẹ trong vòng tay mười bảy. Môi mẹ run lắm, mãi mới thành lời, dặn qua ở với dì, cố học hành và giữ thân cho đến khi gặp người tử tế yên nơi yên chốn hẵng về. Con chưa bao giờ yên nơi yên chốn. Nên chưa bao giờ về từ ngày bước ra khỏi cửa. Mẹ dặn con đừng bắt chước mấy đứa hoang đàng. Con không bắt chước ai, chỉ cư xử theo nhịp tim mình. Bố nhìn con căm phẫn, khinh bỉ. Mẹ buồn rầu nhỏ nhẹ « Con gái trả nợ cha. Nó trả nợ bịnh ông trăng gió ». Bố thôi không thở dài xỉu mặt, vội lo giấy tờ cho con xuất ngoại. Đêm trước khi đi, bố mời ngồi, như khách, pha cho chén trà và thuyết một hồi thế nào làm con gái. Con gái như tờ giấy trắng, phải giữ tinh tươm. Nhưng thế nào là « giữ tinh tươm »? Tức đừng bao giờ yêu cả? Nếu cánh cửa mọi giấc mơ đều mở rộng, nếu thực sự màu trắng của giấy tượng trưng cho tâm hồn trong sạch, thì tất cả đều lệ thuộc vào nhịp đập cục thịt treo trong lồng ngực. Con khóc. Tại bố mẹ thương, đặt con ngồi cao quá, giờ con vấp té, kéo cả gia đình vẫn luôn nề nếp.
Con đứng đây một mình trên xứ người, nghe tin mẹ mất mà không khóc, chỉ có tuyết tan thấm suốt đáy lòng. Mùa này bên nhà gần tết. Hơi ấm chung quanh nồi bánh chưng giao thừa ngày xưa không giúp con bớt lạnh. Cây mùa đông chơ vơ trụi lá, con cũng trần trụi cả linh hồn, trống hoác, dửng dưng. Trời trắng đục mệt mỏi, thầm lặng, rải bông dệt thảm khắp nơi. Nhưng không nơi nào lạnh buốt như con. Cố hình dung con chẳng nhớ mẹ ra sao, chỉ nhớ đôi mắt xa vắng rất buồn bay theo giải lụa màu gạch đỏ mỏng tênh nhẹ hẫng, nó mang mẹ ngang qua phòng con rồi biến mất giữa trời…
X
Tôi chầm chậm mở từng hạt nút nhưng tên đàn ông khoát tay, bảo thích chính gã làm. Đôi mắt màu hạt dẻ sáng quắc sắc sảo, mũi hơi khoằm chiếc cằm vuông đỡ đôi môi dày nhục cảm trơn ướt. Có cảm tưởng gã vừa xong bữa chưa chùi miệng.
Nhưng chẳng làm gì, gã chỉ ngồi đó nhìn tôi như nhìn bình hoa, quyển sách, chai rượu hay viên sỏi, dửng dưng mà mắt không rời. Chẳng cho cởi thêm chẳng cho cài lại. Gã cứ nhìn, vô cảm, ánh mắt không say mê không khinh bỉ: cửa sổ mở toang mà chẳng linh hồn. Tôi vuốt nếp chân chim trên khoé mắt trữ tình. Sợ con gái rỗ hoa chẳng lấy được chồng, bố mẹ đã tốn cả kho tàng. Bốn lần sang Nhật tôi hả hê vuốt làn da mịn màng mỗi sáng. Giờ nó đã ỉu…
Để đỡ khó chịu, tôi nhìn cái chao thủy tinh lá ru rủ bao quanh chùm bóng đèn tròn trái nho sắp chín. Giống chao đèn phòng trà đầu tiên tôi đàn mỗi tối sau khi ra khỏi nhà dì. Ánh sáng mờ mờ ảo ảo và nhạc dập dìu quấn quýt chân tôi càng lúc càng sâu vào con đường gập ghềnh khúc khuỷu. Thấy tôi liếc, gã đến cạnh cười cười:
- Vous sốt ruột à? Tôi trả theo giờ mà, đừng lo.
Không lo, nhưng thái độ gã rờn rợn âm khí rừng Amazonie. Ánh mắt nâu hừng hực lửa địa ngục chưa hề thấy từ ai. Mùi gì lờm lợm không vật chất khó kham thoang thoảng khắp phòng. Liếc quanh, đồ đạc và cách trang hoàng sang trọng chẳng như phòng mình tối tăm chật hẹp. Mình đã bán thân trong những căn phòng đàn ông như thế này đây, để chúng hưởng thụ mọi điều: giàu sang và khoái cảm. Chợt mọi thứ tình lẫn lộn ngùn ngụt dâng lên: ghét gã, thương mình, căm phẫn đời. Đâu là cuối đoạn đường oan nghiệt tôi phải bước qua, mỗi ngày, để chẳng dẫn dắt về nơi nào cả? Tôi uể oải vuốt mái tóc hãy còn mượt dài, nâu ánh rừng thu, lơi lả vài tép màu vàng lúa mạch chưa tới mùa, chín vội. Kéo ra trước che bớt phần thịt hở hang. Gã lắc đầu chậc lưỡi ra dấu bảo đừng. Tôi thỏng tay, chẳng hất tóc ra.
Không biết gã lặng lẽ nhìn như vậy bao lâu, một khắc, một giờ hay cả đời tôi trôi nổi, đến cạnh vén tóc tôi ra sau bắt đầu sờ mó. Gã sờ mó cực kỳ nhẹ như sờ thủy tinh quý hiếm. Nhẹ tới nỗi phát nhột. Gã chẳng vội vàng gì, có cả thời gian nấu vuốt ve thành lửa. Lâu lắm, rồi dễ dàng như ôm đứa bé, xốc tôi đặt trên bàn, đẩy đống sách báo xuống đất. Bằng cử chỉ nghệ sĩ mân mê cọ vẽ, gã từ từ cởi từng cúc áo nhưng lại bứt phăng xu chiêng thô bạo. Chẳng hiểu sao tôi chéo tay ôm ngực. Gã bĩu môi cười cười. Đôi môi ươn ướt bẩn thỉu dục tình. May là gã không đặt nó lên tôi. Hay chưa. Mở ngăn kéo, gã lôi chiếc cặp da đen sáng bóng, liếc thấy toàn cà vạt thẳng tinh tươm.
Luôn luôn chầm chậm, gã nhẹ nhàng lấy từng cái buộc hai tay tôi với lụa vàng, xanh biển, lá cây, vẽ nhạc hình khoá sol đỏ sậm. Như thể mười ngón tay bị trói sẽ búng nốt thành lời. Bồng tôi đến bức tường trống gắn cái móc, treo lên, lùi lại nhìn. Gã nhìn từ trên xuống dưới, dừng lại một vài chỗ lâu hơn, lươn lướt khắp nơi. Rồi sự im lặng trở lại, kéo dài. Vẫn chẳng nói chẳng rằng, chỉ ngồi trên chiếc ghế gỗ bóng loáng chạm đầu sư tử nhe răng, nhìn tôi như vật tế thần… Da rờn rợn. Cảm giác sức nặng trì xuống, cánh tay rướn ra, thân thể lửng lơ trên không, và từ trên cao nhìn xuống chiếc mũi hơi khoằm… cũng có phần thú vị. Tôi mỉm cười. Ngồ ngộ. Chợt nhớ Chúa Jésus. Người nghĩ gì khi bị thiên hạ treo trên thập giá? Xin Đức Chúa Cha hãy tha tội thế nhân, vì chúng không hiểu những gì chúng làm. Tôi hiểu gã biết rõ những gì gã làm. Bỗng cơn ham muốn đàn ông ập tới ran rực khắp người. Giờ thông cảm bố hơn, sao không trọn lòng thủy chung với mẹ. Mẹ ơi, xin mẹ tha tội cho con. Xin mẹ tha tội cho con. Nếu chỉ trả nghiệp cha ông thì hẳn con không qua những cơn cuồng dục. Con khinh bỉ mình, như bố. Con thương con, như mẹ. Và thịt da sường sượng mỗi ngày là con, mãnh liệt hơn lòng yêu lòng ghét. Sao không bắt chước dân Phi Châu, cắt bỏ phần gì trong lau lách đàn bà, để quả lựu đạn trong con không còn ngòi nổ…
Đàn rắn từ vườn địa đàng túa xuống chui rúc vào thân, trườn trượt từng mạch nhỏ, quẫy đạp máu cuồn cuộn tràn trề từng lỗ chân lông. Nhắm mắt nghĩ đến người anh con cậu của gã đã đưa qua triền miên cực lạc. Tự nhủ thôi đây lần cuối, sẽ giữ thân tể cho người mình yêu.Tôi gọi anh khe khẽ, thật khẽ giữa tiếng kêu rên. Muốn cầm tay anh đặt lên đùi để cảm nhận sức rung điện toàn thân. Ngực tôi sẽ nưng nức căng phồng, tim tôi sẽ dập dồn túa máu nóng lan tràn từng tế bào rượn đực ham yêu, sẽ tựa đầu lên vai anh, nhắm mắt cho ngũ quan dập dờn khoái cảm. Chúa đi trong phố, vác thập giá lên đồi tử nạn, tôi khoác khăn lụa đi giữa bạt ngàn đồi nho ngày hai đứa nắm tay chạy sâu vào giữa. Chúa vấp té tự gượng đứng lên, đất xôm xốp gập ghềnh tôi chưa vấp té anh đã siết vào đôi tay vững chãi, cuộn vào hoan lạc. Dưới ánh nắng ấm áp năm giờ chiều tháng tám, hái trái nho xanh đặt lên rốn tôi, cười sảng khoái:
- Vous xem, cứ như hạt ngọc trên tấm lụa ngà…
Chiếc giày chân trái lỏng lẻo rơi xuống, âm thanh khô ngắn đánh thức cơn mơ màng. Gã bật dậy lột váy, giật mạnh ném xuống đất. Tôi thấy màu trắng xi líp. Không giữ được mình như tờ giấy tinh tươm, tôi dành màu trinh bạch này cho mẩu vải che phần thân thể vẫn thường gây phiền nhiễu. Tuyệt không được để gì lợn cợn dính vào. Bởi vì thước đo phẩm hạnh căn cứ vào số đàn ông công khai đìu địu bên trên… Tôi khép mi. Muốn say sưa nghĩ đến anh con cậu gã hơn nhìn vẻ dửng dưng thô bạo. Màu trắng xi líp tràn trề trong mắt. Gã xoay người tôi mở dây kéo váy, tôi hơi đong đưa chóng mặt. Lênh đênh, lênh đênh…
Lại mở mắt nhồn nhột: gã chọt ngón trỏ vào xi líp tôi, kéo ra rồi thả. Kéo ra rồi thả. Càng lúc càng nhanh. Tách. Tách. Tách tách. Tách tách tách... Tiếng cao su búng da vang dội căn phòng, âm thanh chua, sắc, gắt gỏng đến nỗi tấm gương bầu dục treo cạnh tủ sách ran rạn nho nhỏ rồi bựt đứt làm hai. Liếc thấy thân thể mình cắt đôi không đổ máu… Gã tuột chiếc xi líp trắng từ từ, từ từ như e làm da sướt. Với cử chỉ trân trọng đầy kịch tính, gã choàng xi líp lên đầu:
- Đây, tôi ban cho vous một vòng nguyệt quế.
Chúa đội vòng gai chuộc tội thế gian. Mình đội vòng nguyệt quế...
X
Tôi gục đầu vào cánh tay tê điếng mỏi mệt. Hy vọng từ nay được yên ấm…
Cảnh sát tìm ra thủ phạm chẳng khó khăn gì. Dấu vết để lại khắp nơi. Con dao rọc giấy cán cẩm thạch xanh lục. Những sợi tóc nâu trong bồn tắm. Mùa này đang mùa tóc rụng. Cũng tên tài xế Pierre ngày nào đón tôi đến cho anh dẫn xuống thăm hầm rượu sâu ba mươi thước luôn luôn nhiệt độ mười, có hai triệu rưỡi chai nằm ỉm say mèm vì bụng chứa nước nho lên men cao độ – đã đưa tôi đến với gã nhiều lần. Pierre khai cô gái da vàng có mặt hôm tang lễ bố anh tựa hạt đậu phộng vô duyên trong ly rượu. Chính gã ra dấu bằng ánh mắt cho Pierre theo dõi. Từ đó không chỉ chiếc xe kính đen đón đưa tôi, còn thêm xe kính trắng. Gã con cô, không mang họ danh tiếng nhà anh. Cũng chẳng có dáng vẻ bên ngoài phong nhã.
Cảnh sát hỏi vì sao giết gã. Tôi không giết, chỉ trả thù. Hỏi thù gì. Vì gã đánh, bảo mẹ mày là đĩ. Tôi cãi không phải. Gã bảo câm mồm. Nhưng mày không được nói động đến mẹ tao. Tao giết mẹ con mày còn được nữa là! Mẹ nào con nấy, mẹ mày đĩ mày mới làm đĩ. Thứ chintoc tụi mày! Cái gì trong bụng trườn lên, trườn lên, trào ra. Nước nhờn bữa cơm trưa chưa tiêu xối lên người, mùi lợm giọng. Gã cười sang sảng khoái trá. Nhìn tôi chăm chăm cười khoái trá. Mắt gã long lanh chó sói. Trang trọng giữ thân tôi tròng trành, gã liếm những cộng rau chưa nát, những mẩu thịt chưa tan. Nhột. Tôi liếc, cười theo, thích thú, hả hê nhìn gã làm công việc con chó nhỏ sau bữa cơm trưa hôi cơm tanh cá năm mười sáu tuổi...
Cuộc hỏi cung lâu quá. Và nhảm nhí nhiều điều. Tôi mệt, ngáp lia. Trong mơ thường đánh tôi thức giấc mỗi đêm, những cái ngáp cũng triền miên không dứt. Ngáp rồi rơi… rơi… rơi… rơi xuống cái gì đen ngòm nhầy nhụa. Dưới đó hàng vạn cánh tay lông lá thô bạo tóm lấy tôi, tung lên thả xuống cười hô hố. Sau tiếng thét tôi choàng dậy hoảng loạn một mình, trong đêm, cô độc tận cùng. Nhìn quanh, căn phòng nhỏ xíu u mê, tôi bé bỏng bơ vơ giữa mênh mông tăm tối…
Viên cảnh sát đứng lên quay lưng, nhìn qua cửa sổ. Tấm lưng ngang phè, tôi nhớ lại tảng lưng gã khi quay đi cởi áo. Nốt ruồi to nâu như đính hạt hạnh nhân, rung rinh mỗi cử động. Gã treo tôi lên đánh rất đều tay, nhịp nhàng điệu nhảy riêng trong chiếc đầu tóc bờm xờm ngang ngược. Ánh mắt gã lúc rừng rực căm hờn, lúc u ám thin thít tối tăm. Mỏi nhừ mới kéo xuống cưỡi lên. Tôi dang tay nhìn chỗ đỏ au khuỷu tay bị trói. Gã nhăn mặt kéo tay tôi vất lên tấm lưng dày cộm. Đau điếng. Tôi nhăn mặt rên siết. Trong đớn đau hay khoái lạc, đàn bà đều nhăn nhó rên siết như nhau. Gã hùng hục nặng nề công việc thợ mỏ. Anh phiêu lãng tung tôi lên tận bìa mây, dìm xuống vực sâu, ngụp lặn bềnh bồng đứt hơi, nhịp nhàng cuồng dại. Tự nhủ thôi đây lần cuối, sẽ giữ thân thể cho người mình yêu. Tôi nghĩ đến anh tìm khoái cảm. Nó đến. Hung hãn. Bạo liệt. Đau dần từng thớ thịt... Gã ực một tiếng, mắt chỉ còn tròng trắng đứng sững. Mắt tôi liếc con dao rọc giấy. Và khi gã đổ người bên cạnh ngáy lâm râm như kinh nguyện, tôi lặng lẽ chồm lên chộp con dao báu vật. Trong đầu thoáng nhớ phim gì, để tên khổng lồ một mắt không bắt được mình, cả bọn phiêu lưu trên đảo tìm cái sống đã đốt cây chọc vào mắt hắn. Tôi chọc vào mắt. Gã rú lên, chiếc miệng đỏ lòm ươn ướt mở rộng. Tôi đâm mạnh vào mồm. Gã hét phọt máu. Và cứ thế bổ xuống, bổ xuống chẳng ngừng. Nhớ lần anh cai trường cười cười: em mạnh dễ sợ! Chợt hiểu vì sao gã thích thú, chợt hiểu vì sao ngày nhỏ các bạn thích châm kim vào con búp bê nhồi bông của bà tiệm may mà mình lại sợ. Dao rọc giấy không sắc, không cắt được, tôi đâm nát phần thân thể đàn ông vẫn rủ rê đàn bà rắn rồng thiên đàng địa ngục.
Chỉ là trò chơi, nhưng chưa bao giờ chơi ngày còn bé.
Mỏi nhừ. Màu đỏ vương vãi. Lấm tấm chấm đỏ trên da tôi không quần áo. Mùi gì khó kham khi nãy bây giờ đã có vật chất dính vào. Gã chẳng còn kêu rên. Chẳng còn cử động. Tiếp tục trò chơi, tôi đá đống thịt ngả nghiêng phải trái, hả hê vào phòng tắm nhìn trong gương lộng lẫy đồng cát vàng lưa thưa hoa mào gà tươi rói. Mở nước tuôn xối xả, gột rửa hết tội lỗi nhơ bẩn tổ tông… Mơ hồ nghĩ có đúng mình làm vật thí thân trả nợ cha ông trọn kiếp? Khi mặt mũi không còn son phấn, trong gương thấy mẹ đối diện. Da mặt mẹ xanh và mắt rất buồn…
Thành xe lạnh ngắt. Một năm sau ngày mẹ mất. Cái lạnh trở về nhưng không có tuyết, khô khốc, nghiệt ngã hơn bao giờ. Không phải cái lạnh lần tắm sâm banh được đưa vào cung cấm nhà anh qua từng dãy hành lang dài đầy tranh ảnh. Tôi đã đối diện ông cao ông cố, bà cố bà cao, với lung tung bà con nội ngoại. Đã nhìn thấy hình cưới anh bên cô vợ tân thời quý phái, chợt thấy mình hèn mọn chẳng ra sao. Năm thế hệ cao sang sắp hàng trên bức tường gỗ bóng nhẫy. Tôi đưa tay chạm được lịch sử một danh gia vọng tộc. Giờ sắp bước vào hành lang tù dài hơn âm u hơn, chẳng có lịch sử nào ngoài mảnh rách đời mình.
Có cái gì đo đỏ vướng bên cửa xe bưng bít. Mơ hồ thấy giòng máu vọt ra từ cổ gã đỏ tươi, hay cái gì lợn cợn trên xi líp trắng tinh ngày thơ dại… Tôi chồm lên gọi thất thanh Mẹ, Mẹ ơi. Bởi vì cái gì đo đỏ lơ lửng ngoài kia là giải lụa vừa chở mẹ bay qua. Mà lạ, mẹ bíu hai đầu, gió thổi giữa lụa căng căng chiếc xi líp đỏ. Tôi rùng mình. Chỉ vướng một lần, sao còn máu mãi?
Chẳng sợ bị tù, chỉ sợ thịt da không kham nổi cô đơn. Xe chạy vun vút, tách người yêu mỗi phút một xa. Xin phép mẹ, con sẽ thay thế anh cai trường bằng anh cai ngục - mảnh lụa đời con sẽ rứt đứt tận cùng…
Cụ Chắc
Không hiểu sao mấy hôm nay tôi thường nghĩ về bà Chắc - bà cụ sống bằng nghề cầm thế và cho vay lấy lãi quê tôi.
So với người Việt Nam thì bà thuộc loại cao lớn, xương xẩu và ăn nói thẳng thừng ai cũng nể - lỡ cầm cái gì hay vay nợ bà thì càng nể dữ nữa ! Mà trông bà có dữ dằn gì đâu, chỉ cái có tiền làm bà tăng muôn phần uy thế.
Bà có chồng Tàu. Nghe là ông Tàu này trôi dạt tới Việt Nam vào những năm bên đó người ta nhe răng cạp đất. Trong nhóm cùng đi với ông, có người vừa tới Việt Nam gặp cái ăn mừng quá, ăn lấy ăn để rồi lăn đùng ra chết. Chồng bà Chắc thì không hư ăn đến vậy, và kiếm sống ngay bằng nghề tẩm quất. Ngày cụ thân sinh bà đau nhức, ông Tàu xoa bóp thế nào mà ông cụ chịu gả con gái cho. Rồi ông Tàu xin nhận nơi này làm quê hương cho tới hết đời. Ngày cưới, ông sắm cho bà chiếc áo vải điều và chiếc xuyến vàng - gia tài trong hai năm cày sâu cuốc bẫm trên thân gầy Giao Chỉ. Ông bà có được tám người con, năm trai ba gái. Nhưng ông Tàu cho rằng năm con trai liền tù tì là không tốt, là ngũ qủy, nên ông quyết định cho thằng út về Tàu cho chú nó nuôi, ngay cả khi nó chưa đầy tháng. Còn lại bốn thằng hoá ra tứ qúy. Ông bà bắt đầu ăn nên làm ra. Ông bỏ nghề xoa bóp và tậu cửa hàng ngũ cốc. Cái ngộ là thời đó ai lấy chồng Tàu liền có biệt danh là bà Năm Tàu, bà Bốn Tàu... Riêng bà Chắc thì vẫn còn tên bà Hai Chắc.
Vào những năm Nhật đốt kho lẫm cho dân mình chết đói, gia đình đông lúc nhúc của ông bà tương đối vẫn có khoai sắn nhai cầm hơi. Có dạo nghe biển trúng độc, không ai dám ăn đồ
biển nên giá rẻ hơn bèo, ông tha hồ thỏa mãn cái máu Tàu truyền kiếp của mình và bà tòng phu, chẳng sợ chết độc mảy may. Cả gia đình ai cũng phát tướng phát phì từ đấy. Nhường cho cậu trai cả cửa hàng ngũ cốc, bà bắt đầu cầm đồ, cho vay. Gia đình lại càng phát lên. Ðến năm ông Diệm chết bất đắc kỳ tử thì ông Tàu cũng chết - chẳng dính dáng gì nhau, nhưng đó là điểm mốc nói về năm chết của ông cho những người thường quên ngày tháng. Và cũng không phải chết vì chất độc đồ biển dồn lại, mà chết vì bướu cổ. Phu tử thì tòng tử mà bà Chắc thì không, phu tử thì bà tòng Phật. Từ đó bà trở nên bạn chí thiết của Ðức Quan Thế Âm và miệng không ngớt kêu khẩn bạn hiền. Và cũng từ đó bà bắt đầu lẻm bẻm nhai trầu.
Bà tụng kinh gỏ mõ mỗi chiều. Nếu không ai tới vào lúc đó thì những bài kinh kệ của bà hẳn là liên tục và thành khẩn lắm. Khổ cái, thiên hạ thường cần tiền bất tử nên quýnh quáng chạy tới bà - và dù đang tụng niệm, bà có cần gì đâu mà phải quýnh, nên bình tĩnh vừa tụng vừa quay đầu ra phía cửa :
- Nam mô A Di Ðà Phật, đồ rách không cầm, Nam mô...
Xong bà nhìn lên bàn thờ và chỉ có Phật mới biết là bà còn thành tâm trong khi tụng tiếp hay không.
Bà ít khi ra đường, chỉ ở nhà lo tính toán tiền nong. Chữ nhứt bẻ làm hai cũng không ra, vậy mà tính nhẩm thì bà dám đố cả mấy ông thầy toán, thách cả cái bàn toán của ông lang thuốc bắc cạnh nhà. Khi bà tính toán thì Phật trên bàn thờ có gọi bà cũng không nghe. Bà chăm chú tuyệt đối và những con số như thu hết hồn vía bà. Bà tính toán có vẻ say sưa, nhất là tiền lãi, những lúc đó trông bà vui vẻ tươi tỉnh hơn cả những khi lầm rầm khấn vái tâm sự với "bạn hiền".
Ít ra đường nên mỗi lần bà ra khỏi nhà thì ai cũng biết. Chẳng rõ ngày xưa vua chúa đi kinh lý thì dân chúng sợ hãi đến cỡ nào, chớ bà Chắc đi kinh lý thì không những dân chúng không dám nhìn mà còn trốn nữa kia. Thấy bóng dáng bà từ xa, thiên hạ đã bắt đầu lĩnh đi chỗ khác, dặn con cái bà có hỏi thì nói ba má không có nhà nghe con. Dặn vậy là trẻ nhỏ tự nhiên biết phải trả lời với ai. Bà nghiễm nhiên trở thành "bà" của cả làng. Lớn lên tôi tự hỏi chả lẽ cả làng tôi đều thiếu nợ bà ? Chưa bao giờ thấy bà gây gổ hay to tiếng. Với ai bà cũng nhếch mép một chút, cái cười không ra cười, kiểu La Joconde, mà thiên hạ đủ trốn rồi thì đủ hiểu là tiền làm cho nụ cười của bà trở nên vô giá đến độ nào !
Mỗi lần chị em tôi tới dì Hai cách nhà bà một rào thưa, thường gặp cô con dâu cả bà Chắc. Cô hay đem đậu phộng khô qua nhà dì tôi, vừa chuyện gẫu vừa có người lột phụ cho nhanh. Chẳng biết đám con nít vô tội chúng tôi nợ nần gì, cứ mỗi lần gặp thì cô con dâu bà thường bịa ra chuyện lột thi. Thế là chúng tôi... trẻ người non dạ, cứ gồng người lên cố lột cho nhanh, chỉ để cuối cùng được tiếng khen "lột giỏi" và ngón cái với ngón trỏ hai bên sưng tấy lên !
Thỉnh thoảng chúng tôi cũng qua nhà bà Chắc chơi. Bà có vẻ thương con nít. Sẵn đậu phộng bày bán, bà rang vàng phát cho chúng tôi mỗi đứa một nhúm. Chúng tôi vừa ăn vừa lột đậu phộng và nghe bà kể chuyện. Chuyện Hoàng tử đi đánh giặc về, thấy cái vỏ dưa bèn tè vào đấy (không biết Hoàng Tử nghịch hay vì là Hoàng Tử thì phải tè vào cái gì chớ không chịu cho nước ra trực tiếp xuống đất ?). Nàng Út đi đường đói bụng, bắt gặp miếng dưa mừng quá, ăn. Sau đó Nàng Út có bầu... Chuyện ông quan sai lính đem dâng vua quả mít, vợ anh đang có bầu trông thấy mít thèm quá bèn lấy ăn. Ông vua phạt đem mổ bụng người vợ lính, thấy bên trong thai nhi đang cầm múi mít đưa lên môi, và qua làn da bụng mỏng manh của nó người ta thấy là cu cậu đã xới tái mấy múi rồi...
Những chuyện ly kỳ như vậy chúng tôi biết qua tài kể chuyện của bà Chắc. Bà có cái tật rất đặc biệt tổ quốc của chồng là hay khạc nhổ. Mỗi lần đang kể chuyện, bà ho và nhổ toẹt bất kỳ vào một xó nào đó. Nhưng có một lần tôi nghe bà nhơn nhơn trong miệng rồi nuốt cái ực. Từ đó mỗi lần bà đang kể chuyện, nghe bà ho, tôi thường rúm người lại.
- Có anh kia có ngải...
Cả đám con nít nhao nhao :
- Ngải là gì hở bà ?
Một đứa làm lanh :
- Ngải là nghĩa, là người có tình có nghĩa chớ là gì.
- Không phải, ngải là...
Tới đó thì bà ho. Tôi nhắm mắt nín thở chỉ sợ nghe bà nhai nuốt. Nhưng không, lần này hẳn cục đàm cứng lắm, bà đưa tay bốc gọn gàng và vất nghe đánh bốp vào tường.
Ngày con dâu sinh lần ba, bà ẵm thằng cháu nhỏ ngôi ngoài hè chờ tin. Chừng nghe bà mụ nói còn đứa thứ hai, bà đứng vụt lên, bỏ cháu dưới đất. Bà mụ lại la lên còn đứa thứ ba, bà cụ Chắc chạy tuốt ra vườn. Tới chiều sẫm khi mọi việc xong xuôi, anh con trai ra vườn tìm mẹ. Anh kêu lên :
- Trời ơi, ngồi đâu không ngồi lại vô chính giữa bụi tre. Rồi làm sao ra đây mẹ ?
- Phát rụi đám gai cho mẹ ra. Tao không biết làm sao tao vô đây được.
- Nó sinh ba mẹ à.
Cụ la toáng lên :
- Thôi thôi đừng nói nữa. Kéo tao ra cho tao xuống nhà thằng ba tao ở.
Cả tuần sau cụ mới về nhà. Gặp cụ, bà mụ cười :
- Có gì1067